- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tiến Kh được ly hôn chị Trần Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34 /2024/HNGĐ-ST Ngày 24/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Văn Tuấn.
- Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Duy Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Kh, sinh năm 1990; có mặt
Bị đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1990; vắng mặt không có lý do.
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Kh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Đ trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S vào ngày 18/12/2017. Sau ngày kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, sống không tin tưởng, không tôn trọng nhau nên mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay. Ngày 26/6/2023 anh đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án, được Tòa án động viên phân tích nên anh rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh không còn yêu thương chị Trần Thị Đ, vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trần Thị Đ.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần Linh Đ1, sinh ngày 15/4/2018 và Nguyễn Trần Minh Th, sinh ngày 10/02/2022, hiện nay hai con đều do chị Trần Thị Đ đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đồng ý giao hai con cho chị Trần Thị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/ tháng (năm triệu đồng) .
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa bị đơn chị Trần Thị Đ vắng mặt không có lý do nhưng đã có văn bản trình bày ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến Kh trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, vào ngày 18/12/2017. Sau ngày kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5/2021 thì do anh Kh ngoại tình, chị nghi ngờ anh Kh có con riêng nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên, các con chị cần có cha nên chị không muốn các con thiếu thốn tình cảm của cha nên chị không đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Tiến Kh.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Tiến Kh có 02 con chung là Nguyễn Trần Linh Đ1, sinh ngày 15/4/2018 và Nguyễn Trần Minh Th, sinh ngày 10/02/2022. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/tháng (năm triệu đồng).
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn chị Trần Thị Đ không chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Nguyễn Tiến Kh được ly hôn chị Trần Thị Đ.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai cháu là Nguyễn Trần Linh Đ1, sinh ngày 15/4/2018 và Nguyễn Trần Minh Th, sinh ngày 10/02/2022 cho chị Trần Thị Đ tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Tiến Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/tháng (năm triệu đồng).
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Tiến Kh phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Tiến Kh xin ly hôn chị Trần Thị Đ hiện đang cư trú và có hộ khẩu thường trú tại: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi nên Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tiến Kh và chị Trần Thị Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S vào ngày 18/12/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn anh Kh và chị Đ sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp tính nhau, không cùng quan điểm sống, không tôn trọng tin tưởng nhau nên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Tại phiên tòa anh Nguyễn Tiến Kh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị Trần Thị Đ.
Xét thấy: Vào tháng 6 năm 2023 anh Kh đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án, được Tòa án động viên, phân tích nên anh Kh đã rút đơn về nhưng giữa anh Kh và chị Đ vẫn không hàn gắn đoàn tụ được. Anh Kh và chị Đ đã không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2021 đến nay.
Như vậy, đời sống hôn nhân của anh Kh và chị Đ đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử cho anh Kh được ly hôn với chị Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Nguyễn Tiến Kh và chị Trần Thị Đ có 02 con chung là Nguyễn Trần Linh Đ1, sinh ngày 15/4/2018 và Nguyễn Trần Minh Th, sinh ngày 10/02/2022, hiện nay hai con do chị Đ đang nuôi dưỡng. Chị Đ cho rằng trường hợp Tòa án giải quyết cho chị và anh Kh ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con, anh Kh đồng ý giao hai con cho chị Đ nuôi dưỡng.
Xét thấy: Cháu Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th đang sống cùng chị Đ, anh Kh đồng ý giao hai con cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh Kh và chị Đ đã thỏa thuận với nhau về nuôi con, nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Đ yêu cầu anh Nguyễn Tiến Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/tháng (năm triệu đồng), anh Kh đồng ý với mức cấp dưỡng này nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, anh Nguyễn Tiến Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/tháng (năm triệu đồng), thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5 năm 2024 cho đến khi cháu Nguyễn Trần Linh Đ và Nguyễn Trần Minh Th đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Tiến Kh và chị Trần Thị Đ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội Đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh Nguyễn Tiến Kh và chị Trần Thị Đ trình bày không có nợ chung, nên Hội Đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Anh Nguyễn Tiến Kh phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tiến Kh được ly hôn chị Trần Thị Đ.
2. Về con chung:
Giao hai cháu là Nguyễn Trần Linh Đ1, sinh ngày 15/4/2018 và Nguyễn Trần Minh Th, sinh ngày 10/02/2022 cho chị Trần Thị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Tiến Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th mỗi cháu một tháng 5.000.000đồng/tháng (năm triệu đồng), thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5 năm 2024 cho đến khi cháu Nguyễn Trần Linh Đ1 và Nguyễn Trần Minh Th đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Tiến Kh phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng 600.000đồng (sáu trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn) theo biên lai thu tiền số 0000530 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, anh Nguyễn Tiến Kh còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong. Lãi suất phát sinh chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Sơn Tịnh; - Chi cục THADS huyện Sơn Tịnh; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tuyết Nga |