vanban.org

Bản án 34/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ

luật Tố tụng Dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:34/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-01-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Rỡ

2. Ông Mai Văn Thuận

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G

không tham gia phiên tòa

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng

Riềng, tỉnh Kiên G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:

580/2023/TLST - HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn,

nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXX-ST, ngày

05 tháng 01 năm 2024; giữa:

-Nguyên đơn: Chị Bùi Út L, sinh năm:1991 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G.

- Bị đơn: Anh Lý Hậu G, sinh năm: 1988 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Bùi Út L trình bày: chị

và anh Lý Hậu G tự tìm hiểu quen biết trước và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Giồng Riềng chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt không tiếp tục chung sống được với nhau nên cả hai đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy chị và anh G không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh G. Về con chung, chị và anh G có hai con chung tên: Lý Kiều T, sinh ngày 11/3/2011 và Lý Hạo N, sinh ngày 14/4/2013. Hiện nay hai con đang sống với anh G. Đối với con chị yêu cầu xem xét theo nguyện vọng của con, các con ở với ai thì người đó nuôi không ai phải cấp dưỡng. Về tài sản và nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Lý Hậu G trình bày: Anh xác định trình bày của

chị L về kết hôn, con chung là đúng. Anh đồng ý ly hôn, đồng ý xét theo nguyện vọng của con, con ở với ai thì người đó nuôi không ai phải cấp dưỡng. Về tài sản và nợ chung anh thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về trình tự thủ tục tố tụng: chị Bùi Út L yêu cầu ly hôn, nuôi con chung

với anh Lý Hậu G tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và anh Lý Thanh Hồng với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G.

Bị đơn anh Lý Hậu G có đơn xin vắng mặt tại Tòa án nên theo quy định tại

khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng tiến hành xét xử vắng mặt anh G là có căn cứ.

Về nội dung vụ kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Út L và anh Lý Hậu G tự tìm hiểu quen

biết trước và tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên G chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của chị L và anh G là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị L và anh G phát sinh nhiều mâu thuẫn mà không thể nào tháo gỡ để chung sống hạnh phúc nên chị L và anh G đã không còn chung sống vợ chồng từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Tại bản khai, anh G có ý kiến đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L nên xét thấy chị L và anh G thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của

luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Luật hôn

nhân và gia đình năm 2014 công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh G

Về con chung, chị L và anh G cùng xác định vợ chồng có hai con

chung tên: Lý Kiều T, sinh ngày 11/3/2011 và Lý Hạo N, sinh ngày 14/4/2013.

Hiện nay hai con đang sống với anh G. Đối với con chung, chị L yêu cầu xem xét

theo nguyện vọng của các con, các con ở với ai thì người đó nuôi không ai phải

cấp dưỡng. Xét thấy tại bản thể hiện ý kiến của cháu T và N, các cháu có nguyện

vọng sống cùng anh G nên Hội đồng xét xử thống nhất xử giao hai con cho anh G

trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh G không yêu

cầu .

Về tài sản và nợ chung, chị L, anh G thống nhất tự thỏa thuận, không

yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ

luật Tố tụng Dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí.

Căn cứ vào Điểu 55, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Út L và

anh Lý Hậu G

2. Về con chung: chị L, anh G cùng xác định có hai người con chung gồm:

Lý Kiều T, sinh ngày 11/03/2011 và Lý Hạo N, sinh ngày 14/04/2013. Xử giao hai

con chung cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng (xét theo nguyện vọng của con). Chị L

không cấp dưỡng nuôi con do anh G không yêu cầu.

Chị L có quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có

quyền cản trở.

3. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng);

do chị L, anh G thuận tình ly hôn nên mỗi người chỉ chịu một nửa án phí ly hôn là

150.000 đồng ( một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng chị L tự nguyện nộp toàn

bộ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ

vào tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng)

theo biên lai thu tiền số 0002112 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự

huyện Giồng Riềng. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp

thêm.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15

ngày được tính kể từ ngày các đương sự nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ