vanban.org

Bản án 34/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: chị Cao Thị C được ly hôn với anh Sinh Ngọc N1. Về con chung: Giao cháu Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012 cho anh Sinh Ngọc N1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Cao Thị C không phải cấp dưỡng nuôi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi chung C- N1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2024
V/v ly hôn và tranh chấp
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Phi.

2. Bà Đỗ Thị Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị C, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Đường số C, khu công nghiệp T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Anh Sinh Ngọc N1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số nhà A, khu phố V, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà C, ông N1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị C trình bày:

Chị C và anh N1 tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn vào 31/5/2013 tại UBND thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống với nhau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và sống chung không hạnh phúc. Từ tháng 04/2023 đến nay hai vợ chồng ly thân với nhau.

Nay, chị C nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với anh N1 được nữa. Vì vậy, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Cao Thị C và anh Sinh Ngọc N1 có 02 con chung là Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012; Hai con chung hiện nay đang ở với anh N1 nên bà C yêu cầu giao cả hai con chung cho anh N1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và bà C không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Sinh Ngọc N1 trình bày:

Anh N1 thống nhất với chị C về thời gian chung sống cũng như điều kiện kết hôn. Anh N1 thừa nhận trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh N1 đã uống rượu và đánh chị C. Tuy nhiên anh N1 thấy tình cảm vẫn còn, mâu thuẫn chưa đến mức ly hôn và con còn nhỏ nên anh N1 không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung như chị C trình bày là đúng, hiện nay cả hai con đang ở với anh N1 và hai con có cuộc sống, học tập bình thường. Anh N1 không có ý kiến về việc ai là người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Các đương sự đều chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh N1 cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không đến mức phải ly hôn, tuy nhiên anh N1 thừa nhận vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến chị C đã chuyển đi nơi khác ở và làm việc từ tháng 4/2023 đến nay, thỉnh thoảng mới về nhà thăm con, chị C xác định hiện nay không còn tình cảm với anh N1 cho thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài nên chị C yêu cầu ly hôn với anh N1 là có căn cứ chấp nhận.

+ Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Cao Thị C và anh Sinh Ngọc N1 có 02 con chung là Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012. Hai con chung hiện nay đang ở với anh N1 và hai cháu đang có cuộc sông, học tập ổn định nên giao cả hai cháu cho anh N1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đồng thời cũng đảm bảo theo nguyện vọng của hai con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định chị Cao Thị C và anh Sinh Ngọc N1 tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 31/5/2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên hôn nhân giữa chị C và anh N1 là hợp pháp. Chị C cho rằng trong quá trình chung sống với nhau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và sống chung không hạnh phúc; vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2023 đến nay cả hai không có quan hệ qua lại. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh N1. Anh N1 cũng thừa nhận do vợ chồng có mâu thuẫn, hay cãi vã nhau, nhưng chưa đến mức phải ly hôn, anh vẫn còn tình cảm với chị C và con còn nhỏ nên mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng để nuôi dạy con cái.

Xét thấy, anh N1 cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức ly hôn, tuy nhiên anh N1 thừa nhận đã từng uống rượu và đánh chị C, thực tế cả hai cũng đã có thời gian dài sống ly thân, mỗi người sống mỗi nơi, thời gian này cả hai cũng không tìm cách để hàn gắn tình cảm với nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải để cả hai đoàn tụ chung sống nhưng chị C xác định không còn tình cảm với anh N1 cho thấy mâu thuẫn vợ chồng là có thật và trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C được ly hôn với anh N1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Cao Thị C và anh Sinh Ngọc N1 có 02 con chung là Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012. Thời gian ly thân cả hai cháu P và T đều chung sống với anh N1 và anh N1 vẫn bảo đảm được cuộc sống, học tập của các cháu. Do đó, giao cả hai cháu cho anh N1 trực tiếp nuôi dưỡng sẽ bảo đảm cuộc sống các cháu được tốt hơn, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị C, giao hai cháu Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012 cho anh N1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N1 không yêu cầu và chị C cũng đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Cao Thị C được ly hôn với anh Sinh Ngọc N1.

- Về con chung: Giao cháu Sinh Ngọc P, sinh ngày 10/7/2009 và Sinh Thị Ngọc T, sinh ngày 23/5/2012 cho anh Sinh Ngọc N1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Cao Thị C không phải cấp dưỡng nuôi.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức được qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

2. Án phí: Chị Cao Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0005678 ngày 24-4-2024. của Chi cục Thi hành án huyện Châu Đức. Chị C đã nộp đủ tiền án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ