- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” với ông Đỗ Đức Th nh bà Nguyễn Th Oanh;
- Căn cứ chính? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm; Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 34/2024/DT-ST Ngày: 26/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng * Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Sơn Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Thư ký tòa án Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 127/2024/TLST-DS ngày 26/3/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự: Đ a ch : ố 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Đại diện hợp pháp: Ông Ngô Chí Dũng - Chức vụ: Chủ t ch HĐQT. Ủy quyền cho: Ông Đỗ Hoàng Long – Giám đốc trung tâm THN KHDN và XLN pháp lý VP Bank. Ông Long ủy quyền lại cho ông Lê Quang Tú, ông Nguyễn Sỹ Việt, bà Nguyễn Thị Hằng Nga - Chuyên viên xử lý nợ pháp lý; ông Ngô Tuấn Anh – Trưởng bộ phận XLN 4 – Phòng KHCN Miền Bắc 2 (Giấy ủy quyền số 124/2024/UQ-VPB ngày 01/7/2024). Ông Tú, bà Nga có mặt, ông Việt, ông Tuấn Anh vắng mặt. * Bị đơn: Ông Đỗ Đức Thịnh, sinh năm 1960 Bà Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1966 Đ a ch : hu Đ phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, t nh Bắc Ninh. Ông Th nh có mặt. Bà Oanh vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt) * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Đỗ Thị Hương Lan, sinh năm 1986 Đ a ch : hu Đ, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, t nh Bắc Ninh. Hiện đang chấp hành án tại Đội 47, Khu 1, Trại giam Ngọc Lý, t nh Bắc Giang. Vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt) Ông Nguyễn Hữu Vinh, sinh năm 1981 Đ a ch : hu Đ, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, t nh Bắc Ninh. Vắng mặt |
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 23/11/2021, ông Đỗ Đức Th nh và bà Nguyễn Th Oanh đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111174724398 với Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng (sau đây gọi là ngân hàng VPBank) để vay số tiền 3.600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 26/11/2021 đến ngày 26/11/2022, mục đích vay để kinh doanh nội thất ô tô, lãi suất vay 8%/năm, kỳ điều ch nh lãi suất 01 tháng/lần (lãi suất cơ sở + biên độ 3,5%/năm), lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Th nh đã thế chấp bằng thửa đất số 108, tờ bản đồ số 7 có đ a ch tại phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh, diện tích 144m2 được Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 09/3/2016 mang tên ông Đỗ Đức Th nh. Tổng giá tr tài sản đảm bảo trên là 4.932.360.000đ, phạm vi bảo đảm là 3.600.000.000 đồng.
Cùng ngày, Ngân hàng VPBank đã tiến hành giải ngân số tiền vay cho ông Th nh và bà Oanh là 3.600.000.000 đồng và lập khế ước nhận nợ.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Th nh và bà Oanh mới thanh toán cho ngân hàng số tiền lãi là 260.867.119 đồng (tiền lãi trong hạn 260.867.100 đồng, lãi chậm trả 19 đồng), mà chưa thanh toán khoản tiền nợ gốc nào cho ngân hàng. Sau đó, bà Oanh, ông Th nh không thanh toán tiếp khoản tiền nào cho ngân hàng. Ông Th nh, bà Oanh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank từ ngày 15/9/2022, do đó các khoản vay đã b chuyển sang nợ quá hạn và ch u lãi suất quá hạn từ ngày 15/9/2022. Mặc dù ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc ông Th nh và bà Oanh trả nợ nhưng ông bà vẫn khất lần không thanh toán.
Tính đến ngày xét xử, 23/8/2024, số dư nợ gốc và lãi của ông Th nh và bà Oanh là 5.182.093.011 đồng (trong đó nợ gốc: 3.600.000.000 đồng, nợ lãi 1.410.045.777 đồng, lãi chậm trả 172.047.234 đồng).
Do đó, VPBank yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh phải thanh toán cho ngân hàng VPBank tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/8/2024 và toàn bộ số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 24/8/2024 cho đến khi ông Th nh và bà Oanh trả hết nợ cho Ngân hàng.
Sau khi ông Th nh bà Oanh thanh toán hết nợ gốc lãi cho VPBank thì VPBank sẽ trả lại cho ông Th nh bà Oanh giấy tờ về tài sản thế chấp mà Ngân hàng đang giữ.
Trường hợp ông Th nh, bà Oanh không trả nợ đầy đủ cho ngân hàng VPBank thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 108, tờ bản đồ số 7 có đ a ch tại phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản đảm bảo b kê biên phát mãi không đủ để thu hồi nợ thì ông Th nh bà Oanh vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục trả gốc lãi cho ngân hàng
* Bị đơn, ông Đỗ Đức Thịnh, bà Nguyễn Thị Oanh trình bày: Ông bà đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và xác nhận đã ký kết với Ngân hàng VPBank Hợp đồng cho vay hạn mức và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất như đại diện Ngân hàng đã trình bày; thống nhất với ngân hàng VPBank về khoản tiền vay, lãi suất thỏa thuận, tài sản thế chấp, các khoản tiền đã thanh toán và số tiền nợ còn lại chưa thanh toán và đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo yêu cầu. Tuy nhiên, do vợ chồng ông bà không còn khả năng thanh toán nên đã đồng ý bàn giao tài sản thế chấp và tự nguyện giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng từ tháng 6 năm 2023 đến này để Ngân hàng chủ động xử lý thu hồi nợ. Ông bà đề ngh Ngân hàng chủ động xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng ch xử lý phần diện tích đất thực tế hiện nay vợ chồng bà đang quản lý sử dụng là khoảng 122 m2, phải trừ lại khoảng 20m2 đất vợ chồng ông bà đã cho con gái là ch Đỗ Th Hương Lan xây công trình phụ vào năm 2016. Vì tại thời điểm ngân hàng VPBank cho vợ chồng ông bà vay tiền và nhận thế chấp tài sản bảo đảm thì ngân hàng đã tiến hành xem xét thẩm đ nh giá tài sản thế chấp, biết rõ hiện trạng trên diện tích đất mà ông bà thế chấp có một phần công trình phụ khoảng 20m2 của con gái ông bà là Đỗ Th Hương Lan xây dựng nhưng ngân hàng vẫn đồng ý nhận thế chấp tài sản này mà không ghi nhận phần nhà này vào hợp đồng thế chấp. Dù ông bà chưa làm thủ tục sang tên phần diện tích đất này cho con gái nhưng phần công trình phụ này kiên cố gắn liền trong kết cấu với căn nhà hai tầng của con gái ông bà. Do đó, khi thế chấp, ông bà đã nói rõ và xác đ nh với Ngân hàng là diện tích đất mà vợ chồng ông bà thế chấp ít hơn 20m2 so với diện tích đất ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chị Đỗ Thị Hương Lan (con gái ông Thịnh, bà Oanh) trình bày: Ch xác nhận việc ông Th nh và bà Oanh có thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 108 tờ bản đồ số 7 diện tích 144m2 cùng tài sản trên đất tại phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh để vay Ngân hàng VPBank số tiền 3.600.000.000 đồng. Vào khoảng năm 2015, ch Lan có mua 01 thửa đất ở cạnh với thửa đất 108 của bố mẹ ch . Vì thửa đất của ch có diện tích nhỏ nên vợ chồng ông Th nh đã cho ch Lan khoảng 20m2 ở cuối thửa đất để làm công trình phụ. Việc bố mẹ cho ch phần đất này có lập biên bản họp gia đình và có xác nhận của chính quyền đ a phương. au khi được bố mẹ cho đất ch đã xây dựng công trình phụ tại phần đất này từ năm 2016. Bản thân ch và ông Th nh, bà Oanh chưa làm thủ tục tách phần đất này theo quy đ nh của pháp luật. Ch có nguyện vọng được giữ lại phần đất bố mẹ đã cho vì khi vay tiền ngân hàng thì phía ngân hàng đã đến xem xét thẩm đ nh và biết rõ thời điểm ông Th nh bà Oanh vay vốn Ngân hàng và thế chấp tài sản đã có công trình này của ch . Do ch đang chấp hành án tại Trại giam Ngọc Lý nên ch xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, anh Nguyễn Hữu Vinh vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử ngh án, đều thực hiện và tiến hành đúng theo quy đ nh của pháp luật.
Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy đ nh tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn, b đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ch Lan: Đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy đ nh tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là snh Vinh đã không có mặt theo Giấy triệu tập của tòa, không hợp tác làm việc là không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy đ nh tại Điều 70, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự
Việc giải quyết vụ án đúng thời hạn theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 161; 271, 273 BLTTD ; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 317, 318, 320, 321, 322, 323, 325, 401, 407, 408, 463, 466, 468, 470 BLD 2015; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Điều 25, 27, 56 Ngh đ nh số 163/2006/NĐ-CP Ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy đ nh về giao d ch bảo đảm; Ngh đ nh số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Ngh đ nh số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao d ch bảo đảm; Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngh quyết 326 của UBTVQH; đề ngh Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank.
+ Buộc ông Đỗ Đức Th nh và bà Nguyễn Th Oanh phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng VPBank tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 5.182.093.011 đồng (trong đó nợ gốc: 3.600.000.000 đồng, nợ lãi 1.410.045.777 đồng, lãi chậm trả 172.047.234 đồng).
+ Xác đ nh Hợp đồng thế chấp số 4724398/TC ngày 23/11/2021 ký giữa ông Đỗ Đức Th nh và ngân hàng VPBank thế chấp Quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 108, tờ bản đồ số 7 có đ a ch tại phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh vô hiệu một phần.
+ Trường hợp nếu ông Đỗ Đức Th nh và bà Nguyễn Th Oanh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ đối với khoản nợ nêu trên thì ngân hàng VPBank có quyền yêu cầu xử lý một phần tài sản thế chấp có diện tích đất còn lại 125,9m2 cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên phần diện tích đất là ngôi nhà 2 tầng có diện tích xây dựng 106m2 được xây năm 2003 của thửa đất số 108 (có giới hạn trên bản trích đo hiện trạng bởi các điểm 3,4,5,6,7,8,9,10) được Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 09/3/2016 mang tên ông Đỗ Đức Th nh.
B đơn phải ch u án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1]. Về tố tụng:
- Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy đ nh tại Điều 429 của BLD năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình b xâm phạm. Do vậy việc khởi kiện của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu theo quy đ nh của pháp luật.
- Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ngân hàng VBBank (là tổ chức tín dụng) khởi kiện yêu cầu bà ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh có nơi cư trú tại phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh phải trả số nợ gốc + lãi vay theo các Hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và ông Th nh bà Oanh. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Cá nhân ông Th nh, bà Oanh vay tiền ngân hàng VPBank mục đích vay để buôn bán nội thất ô tô. Tuy nhiên, ông Th nh bà Oanh không đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên xác đ nh ông Th nh bà Oanh vay ngân hàng với tư cách cá nhân mà không phải là hộ kinh doanh cá thể. Do đó Tòa án xác đ nh đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, b đơn, bà Nguyễn Th Oanh, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Nguyễn Hữu Vinh, Đỗ Th Hương Lan vắng mặt. Xét thấy bà Oanh và ch Hương Lan đề ngh tòa án xét xử vắng mặt; anh Vinh đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên tòa nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết đ nh xét xử vắng mặt b đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
2]. Về nội dung:
. Về yêu cầu trả nợ của nguyên đơn đối với bị đơn:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên đương sự, có đủ cơ sở để khẳng đ nh:
Ngày 23/11/2021, ông Đỗ Đức Th nh và bà Nguyễn Th Oanh đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111174724398 với Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng (sau đây gọi là ngân hàng VPBank) để vay số tiền 3.600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 26/11/2021 đến ngày 26/11/2022, mục đích vay để kinh doanh nội thất ô tô, lãi suất vay 8%/năm, kỳ điều ch nh lãi suất 01 tháng/lần (lãi suất cơ sở + biên độ 3,5%/năm), lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Th nh đã thế chấp toàn bộ diện tích nhà đất thuộc thửa đất số 108, tờ bản đồ số 7 có đ a ch tại phường Ninh Xá, TP Bắc Ninh, diện tích 144m2 được Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 09/3/2016 mang tên ông Đỗ Đức Th nh. Tổng giá tr tài sản đảm bảo trên là 4.932.360.000đ, phạm vi bảo đảm là 3.600.000.000 đồng.
Cùng ngày, Ngân hàng VPBank đã tiến hành giải ngân số tiền vay cho ông Th nh và bà Oanh là 3.600.000.000 đồng và lập khế ước nhận nợ.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Th nh và bà Oanh mới thanh toán cho ngân hàng số tiền lãi là 260.867.119 đồng (tiền lãi trong hạn 260.867.100 đồng, lãi chậm trả 19 đồng), mà chưa thanh toán khoản tiền nợ gốc nào cho ngân hàng. au đó, bà Oanh, ông Th nh không thanh toán tiếp khoản tiền nào cho ngân hàng. Ông Th nh, bà Oanh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank từ ngày 15/9/2022, do đó các khoản vay đã b chuyển sang nợ quá hạn và ch u lãi suất quá hạn từ ngày 15/9/2022. Mặc dù ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc ông Th nh và bà Oanh trả nợ nhưng ông bà vẫn khất lần không thanh toán. Do đó, đến ngày 31/12/2023, Ngân hàng VPBank đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Ngân hàng đã xác đ nh, đến ngày 23/8/2024 dư nợ của ông Th nh và bà Oanh là 5.182.093.011 đồng (trong đó nợ gốc: 3.600.000.000 đồng, nợ lãi 1.410.045.777 đồng, lãi chậm trả 172.047.234 đồng). Ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của đại diện Ngân hàng về việc ký kết hợp đồng tín dụng, tài sản thế chấp, thời hạn vay, quá trình thực hiện hợp đồng, số dư nợ gốc nợ lãi…. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy đ nh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có đủ cớ sở để khẳng đ nh việc ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng là có thật. Các bên ký kết Hợp đồng trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung và hình thức của các hợp đồng tín dụng có đủ các điều kiện có hiệu lực của giao d ch dân sự. Do vậy hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật bắt buộc thi hành với tất cả các bên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng VP Bank đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Ông Th nh bà Oanh đã nhận đủ số tiền vay. Nhưng khi thực hiện hợp đồng, ông Th nh bà Oanh mới ch trả được một phần tiền lãi. Việc ông Th nh bà Oanh không thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc lãi khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Do vậy, VP Bank yêu cầu ông Th nh bà Oanh phải thanh toán số tiền nợ gốc và các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy đ nh của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp khi bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền:
* Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/4/2024:
Ngày 25/4/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm đ nh đối với thửa đất tại số nhà 5 ngách 5 ngõ 35 đường Huyền Quang, khu Đọ Xá, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh. Diện tích thực tế đo đạc là 144 m2.
+ Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 89 tờ bản đồ số 7; Phía Nam giáp đường giao thông và thửa đất số 107 tờ bản đồ số 7; Phía Đông giáp đường giao thông; Phía Tây giáp thửa đất số 559 và 561 tờ bản đồ số 7.
+ Tài sản trên đất: Có 01 ngôi nhà 2 tầng bê tông cốt thép bao gồm: Nhà 2 tầng tổng diện tích sàn là 104,4 m2, nhà bếp mái bằng 26,6 m2 trên lợp ngói Fibro ximang chống nóng, sân gạch đỏ 38 m2. Phía sau ngôi nhà có 01 công trình phụ 2 tầng: tầng 1 làm nhà bếp, tầng 2 để đồ có diện tích 18,1m2/sàn (liền với ngôi nhà 2 tầng của thửa đất số 561) do ch Đỗ Th Hương Lan xây dựng và quản lý sử dụng.
* Tại Chứng thư thẩm định giá số 198 ngày 15/7/2024:
+ 01 công trình phụ 2 tầng: tầng 1 làm nhà bếp, tầng 2 để đồ có diện tích 18,1m2/sàn có giá tr 127.920.000đ.
Hội đồng xét xử xét:
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng cung cấp hồ sơ thẩm đ nh giá tài sản trước khi cho vay liên quan đến thửa đất. Ngân hàng VPBank đã cung cấp hồ sơ thẩm đ nh giá tài sản thế chấp gồm: Báo cáo đánh giá hiện trạng đối với tài sản, báo cáo đ nh giá tài sản và Báo cáo tư vấn về giá tài sản bảo đảm ngày 01/11/2021, trong hồ sơ này thể hiện việc Ngân hàng tiến hành xem xét hiện trạng thửa đất thế chấp ch xem xét và ghi nhận tài sản trên thửa đất số 108 là Ngôi nhà 2 tầng có diện tích sàn 106m2 xây dựng năm 2003 là tài sản gắn liền với thửa đất đã được cấp GCN. Trong hồ sơ không xem xét ghi nhận tài sản là 01 công trình phụ 2 tầng diện tích sàn 18,1m2 mà ch Lan đã xây dựng trên thửa đất số 108 này.
Quá trình Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm đ nh tại chỗ thửa đất cấp cho ông Đỗ Đức Th nh xác đ nh trên đất ngoài các tài sản đã ghi nhận trong Hợp đồng thế chấp tài sản, còn có 01 công trình phụ 2 tầng: tầng 1 làm nhà bếp, tầng 2 để đồ có diện tích 18,1m2/sàn (liền với ngôi nhà 2 tầng của thửa đất số 561) do ch Đỗ Th Hương Lan xây dựng và quản lý sử dụng nhưng không được ghi nhận trong Hợp đồng. Theo trình bày của ông Th nh, bà Oanh và ch Lan thì công trình này được xây dựng năm 2016, trước thời điểm thế chấp.
Như vậy, việc bộ phận thẩm đ nh tài sản bảo đảm của Ngân hàng VPBank không ghi nhận thực trạng có 01 công trình phụ 2 tầng trên phần diện tích đất thế chấp là vi phạm nghiêm trọng quy trình thẩm đ nh tài sản bảo đảm và thực hiện chưa đúng quy đ nh nội bộ của Ngân hàng (việc tiến hành thẩm đ nh giá tài sản bảo đảm là bất động sản thì Bộ phận nghiệp vụ về thẩm đ nh của Ngân hàng phải tiến hành khảo sát thực tế đối với bất động sản để xác đ nh kích thước thửa đất, công trình xây dựng trên đất, v trí tọa lạc của đất...). Vi phạm quá trình xét duyệt cấp tín dụng và việc thẩm đ nh tài sản bảo đảm để quyết đ nh cho vay quy đ nh tại khoản 2 Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 1, 2 Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy đ nh về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Khoản 2 Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy đ nh:
“2. Tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân đ nh trách nhiệm giữa khâu thẩm đ nh và quyết đ nh cấp tín dụng”.
Khoản 1, 2 Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy đ nh:
“1. Tổ chức tín dụng tổ chức thẩm đ nh khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của khách hàng theo quy đ nh tại Điều 7 Thông tư này để xem xét quyết đ nh cho vay. Trong quá trình thẩm đ nh, tổ chức tín dụng được sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, kết hợp với các thông tin tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam, các kênh thông tin khác.
2. Tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cho vay theo nguyên tắc phân đ nh trách nhiệm giữa khâu thẩm đ nh và quyết đ nh cho vay”.
Theo điểm b khoản 2 Điều 22 Thông tư 39/2016/TT-NHNN thì quy trình thẩm đ nh sẽ được nêu rõ trong quy đ nh nội bộ về cho vay của Ngân hàng trong đó có phân cấp, ủy quyền và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong việc thẩm đ nh, phê duyệt, quyết đ nh cho vay, các công việc khác thuộc quy trình thẩm đ nh, phê duyệt và quyết đ nh cho vay.
Đối với những tài sản khác gắn liền với thửa đất số 108 được nêu trong hợp đồng thế chấp thì không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp.
Xét thấy, một phần của đối tượng thế chấp là phần công trình phụ 2 tầng xây dựng trên diện tích 18,1m2 thuộc thửa đất số 108 không phải là tài sản của ông Th nh - người thế chấp mà thuộc quyền sở hữu của ch Lan nên căn cứ khoản 1 Điều 408 Bộ luật dân sự thì xác đ nh hợp đồng thế chấp nêu trên vô hiệu một phần do có đối tượng không thể thực hiện được. Việc hợp đồng thế chấp này vô hiệu một phần là do lỗi của ngân hàng VPBank đã thực hiện sai quy trình thẩm đ nh tài sản thế chấp.
Do đó, ngân hàng ch được yêu cầu xử lý một phần tài sản thế chấp có diện tích đất còn lại 125,9m2 cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên phần diện tích đất là ngôi nhà 2 tầng có diện tích xây dựng 106m2 được xây năm 2003 của thửa đất số 108 (có giới hạn trên bản trích đo hiện trạng bởi các điểm 3,4,5,6,7,8,9,10) được Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 09/3/2016 mang tên ông Đỗ Đức Th nh để thu hồi nợ trong trường hợp ông Th nh bà Oanh không thanh toán hoặc thanh toán đầy đủsố tiền nợ cho Ngân hàng.
Đối với phần công trình phụ 2 tầng xây dựng ở phần đất 18,1m2 (nằm trong thửa đất số 108) cần giao cho ch Lan tiếp tục quản lý sử dụng.
. Về án phí:
B đơn phải ch u án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là:
112.000.000 đồng + 0,1% x (5.182.093.011 đồng – 4.000.000.000 đồng) = 113.182.093 đồng (làm tròn số).
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng tự nguyện ch u toàn bộ chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 161; 271, 273 BLTTD ; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 317, 318, 320, 321, 322, 323, 325, 401, 407, 408, 463, 466, 468, 470 BLD 2015; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Điều 25, 27, 56 Ngh đ nh số 163/2006/NĐ-CP Ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy đ nh về giao d ch bảo đảm; Ngh đ nh số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Ngh đ nh số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao d ch bảo đảm; Điều 17 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngh quyết 326 của UBTVQH;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” với ông Đỗ Đức Th nh bà Nguyễn Th Oanh;
+ Buộc ông Đỗ Đức Th nh bà Nguyễn Th Oanh phải thanh toán cho VP Bank tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 5.182.093.011 đồng (trong đó nợ gốc: 3.600.000.000 đồng, nợ lãi 1.410.045.777 đồng, lãi chậm trả 172.047.234 đồng); và toàn bộ số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng tính từ ngày 24/8/2024 cho đến khi ông Th nh và bà Oanh trả hết nợ cho Ngân hàng.
2. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 4724398/TC ngày 23/11/2021 ký giữa ông Đỗ Đức Th nh và Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng thế chấp quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 108, tờ bản đồ số 7 tại phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh vô hiệu một phần.
3. Sau khi ông Th nh bà Oanh thanh toán hết nợ gốc lãi cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng phải trả lại cho ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 331156, số vào sổ cấp GCN: CS 01543 do Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp ngày 9/3/2016 cho ông Đỗ Đức Th nh mà Ngân hàng đang giữ.
4. Trường hợp nếu ông Đỗ Đức Th nh và bà Nguyễn Th Oanh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ đối với khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng có quyền yêu cầu xử lý một phần tài sản thế chấp có diện tích đất còn lại 125,9m2 cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên phần diện tích đất là ngôi nhà 2 tầng có diện tích xây dựng 106m2 được xây năm 2003 của thửa đất số 108 (có giới hạn trên bản trích đo hiện trạng bởi các điểm 3,4,5,6,7,8,9,10) được Sở tài nguyên và môi trường t nh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 09/3/2016 mang tên ông Đỗ Đức Th nh để thu hồi nợ.
(Có Trích đo hiện trạng thửa đất kèm theo)
5. Về án phí và chi phí tố tụng:
Ông Đỗ Đức Th nh, bà Nguyễn Th Oanh phải nộp 113.182.093 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng số tiền 56.218.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số BLTU/23; Số: 0000711 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Th nh Vượng đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ.
6. Quy đ nh chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Nguyên đơn, b đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; b đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| * Nơi nhận: - VKSND thành phố Bắc Ninh - TAND t nh Bắc Ninh; - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh; - Đương sự; Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Nguyễn Thị Lệ |