vanban.org

Bản án 34/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 21/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị T.

Buộc bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H cùng có nghĩa v trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền vay là 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) đồng. Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n khi thi hành án xong tất cả các k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Thu yêu cầu bà Phạm Thị Út trả tiền vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật dân s; Điều 466 Bộ luật dân s
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2024/DS-ST
Ngày: 21-8-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng

2. Ông Phạm Hồng Tận

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày tháng 8 năm 0 4, tại tr s Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử s th m công khai v án dân s s th m th lý số: 60/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 0 4 theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 0/2024 QĐ ST-DS ngày

tháng 7 năm 0 4 và Quy t định tạm ngừng phiên tòa số: 0 0 4 QĐST-DS ngày 0 tháng 7 năm 0 4, gi a các đư ng s :

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 969; N i cư trú: Tổ 06, ấp V B, xã V H, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị U (H), sinh năm 97 và ông Trần Văn H, sinh năm 1958; Cùng cư trú: Tổ 07, ấp H T, xã T T, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2024, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Do chỗ quen bi t cùng địa phư ng, bà có cho ông Trần Văn H và bà Phạm Thị U vay tiền nhiều lần, mỗi lần vay đều có làm biên nhận, m c đích vay là để làm vốn chăn nuôi heo, thỏa Tận lãi suất vay là .000đồng .000.000 đồng ngày, không có thỏa Tận thời hạn vay. Đ n cuối năm 0 3, bà với với chồng bà U, ông H k t sổ lại với nhau và vợ chồng bà U còn nợ bà số tiền 50.000.000 đồng, sau đó bà U có trả được số tiền 5.000.000 đồng. Khi vay, vợ chồng ông H, bà U có giao cho bà cầm gi tài sản là giấy chứng nhận quyền sử d ng đất của ông Trần Văn H (bản chính) để làm niềm tin, hiện nay bà vẫn còn cầm gi giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, ngoài ra bà không còn gi tài sản gì khác của vợ chồng bà U, ông H.

Sau khi vay, vợ chồng bà U, ông H có th c hiện việc trả lãi cho bà nhưng không đầy đủ như thỏa Tận, khi trả lãi cũng không có lập biên nhận. Vào tháng

0 3, bà có yêu cầu Ban nhân dân ấp Hòa Tân, xã Tân Thạnh giải quy t để đòi lại số tiền đã cho vợ chồng ông H, bà U vay. Ông H, bà U có hứa hẹn trả cho bà mỗi tháng .000.000 đồng nhưng không th c hiện.

Bà Nguyễn Thị T yêu cầu vợ chồng ông Trần Văn H, bà Phạm Thị U (H) có trách nhiệm trả một lần cho với số tiền còn nợ là 45.000.000 (bốn mư i lăm triệu) đồng, đồng thời yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ khi Tòa án xét xử cho đ n khi vợ chồng ông H, bà U trả dứt nợ. Ngoài ra bà không còn có yêu cầu nào khác.

- Bị đơn bà Phạm Thị Uvà ông Trần Văn H cùng trình bày:

Bà Phạm Thị Uvà ông Trần Văn H có vay tiền của bà Nguyễn Thị T nhiều lần, lần đầu vay số tiền 0.000.000 đồng vào năm 0 , các lần vay sau đều có lập biên nhận nhưng không nhớ c thể thời gian vay, không có thỏa Tận thời hạn vay nhưng có thỏa Tận lãi suất vay là .000đồng .000.000 đồng ngày. Khi vay, ông bà có giao cho bà T cầm gi tài sản là bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất của ông Trần Văn H đứng tên để làm niềm tin, hiện nay bà T vẫn còn cầm gi giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 .

Ông bà thừa nhận có vay và còn nợ bà T số tiền 45.000.000 đồng. Hiện nay hoàn cảnh kinh t gia đình gặp khó khăn, không có khả năng trả một lần nên xin hẹn trả mỗi tháng là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng cho đ n khi dứt nợ, về tiền lãi hai bên đã thanh toán với nhau, ông bà không yêu cầu Tòa án điều chỉnh. Đồng thời ông bà yêu cầu bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho ông H đứng tên.

Tòa án ti n hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, ti p cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành. Ngoài các tài liệu, chứng cứ do các đư ng s giao nộp, các đư ng s không cung cấp, giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố t ng: Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu th lý giải quy t v án đúng th m quyền, đảm bảo thời hạn chu n bị xét xử. Quá trình T thập chứng cứ, m phiên họp kiểm tra việc giao nộp, ti p cận, công khai chứng cứ, hòa giải, tống đạt các văn bản tố t ng cho đư ng s …đều th c hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố t ng dân s năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Người tham gia tố t ng đã th c hiện đầy đủ quyền và nghĩa v tố t ng theo quy định của pháp luật.

- Ý ki n về việc giải quy t v án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s v án, lời trình bày và yêu cầu của người tham gia tố t ng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n đối với bị đ n, buộc bà Phạm Thị Uvà ông Trần Văn H cùng có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền vay là 45.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm giao trả lại cho ông H, bà U bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho ông H đứng tên. Bà Phạm Thị U phải chịu án phí dân s s th m theo quy định, ông Trần Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân s theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ ] Về tố t ng:

Về th m quyền: Bà Nguyễn Thị T kh i kiện yêu cầu bà Phạm Thị U và ông Trần Văn H cùng có trách nhiệm trả tiền vay, bị đ n cư trú tại: ấp H T, xã T T, thị xã T C, tỉnh A G nên thuộc th m quyền giải quy t của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản Điều 39 Bộ luật Tố t ng dân s năm 2015.

Về nội dung:

Trong quá trình giải quy t v án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà có cho vợ chồng bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H vay tiền nhiều lần, mỗi lần vay có lập biên nhận, m c đích làm vốn chăn nuôi heo, hai bên thoả Tận lãi suất mỗi ngày là .000đồng .000.000đồng, không có thỏa thuận thời hạn vay. Đ n năm 0 3, hai bên k t sổ lại và vợ chồng bà U, ông H còn nợ bà T số tiền tổng cộng là 50.000.000 đồng, sau đó có trả được 5.000.000 đồng, còn nợ số tiền 45.000.000 đồng. Bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H thừa nhận có vay và hiện nay còn nợ số tiền như bà T trình bày, đây là tình ti t không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố t ng dân s năm 2015.

Xét thấy, gi a nguyên đ n và bị đ n có thỏa thuận, xác lập hợp đồng vay tài sản trên c s t nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Các bên tham gia giao dịch đều là người có đủ năng l c hành vi dân s nên đây là giao dịch dân s hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân s 2015, c thể “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa Tận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa Tận hoặc pháp luật có quy định”.

ét yêu cầu của nguyên đ n: Vào tháng 12/2023, bà Nguyễn Thị T yêu cầu vợ chồng bà U, ông H trả lại số tiền đã vay, bà U và ông H có hẹn trả mỗi tháng là .000.000 đồng nhưng không th c hiện đúng và trách nhiệm của bên vay, vi phạm nghĩa v đã ảnh hư ng đ n quyền, lợi ích hợp pháp của bà T. Vì vậy, bà T kh i kiện yêu cầu bà U, ông H có trách nhiệm trả một lần số tiền 45.000.000 đồng và tiền lãi tính từ thời điểm Tòa án xét xử cho đ n khi bà U, ông H trả dứt nợ là hoàn toàn phù hợp và có căn cứ theo quy định tại khoản Điều 466 Bộ luật dân s năm 0 5, c thể “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”.

Xét lời trình bày của bị đ n: Tại phiên tòa, bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H thừa nhận có vay và còn nợ bà Nguyễn Thị T số tiền 45.000.000 đồng, về tiền lãi hai bên đã thỏa Tận thanh toán cho nhau, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quy t. Bà U, ông H cho rằng hiện nay đang gặp khó khăn về kinh t , không có khả năng thanh toán một lần nên hẹn trả cho bà T mỗi tháng là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng cho đ n khi dứt nợ nhưng không được bà T đồng ý nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu của bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H: Các đư ng s cùng thừa nhận khi xác lập vay tài sản, bị đ n có giao cho nguyên đ n gi bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất để làm niềm tin, nguyên đ n sẽ giao trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho bị đ n khi thanh toán dứt nợ. ét thấy, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho ông Trần Văn H đứng tên là chứng thư pháp lý thể hiện quyền sử d ng 75,3m2 (trong đó: đất 60,5m2, đất nằm trong hành lang lộ giới 4,8m2) thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp Tân Hòa A, xã Tân An, huyện Tân Châu (nay là ấp Hòa Tân, xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu), tỉnh An Giang. Bà T chỉ đồng ý giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho vợ chồng ông H, bà U khi thanh toán dứt nợ. Quá trình giải quy t v án và tại phiên tòa, các bên thừa nhận có thỏa thuận giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất với m c đích làm niềm tin đối với số tiền bị đ n đã vay của nguyên đ n. Mặt khác, các bên chỉ thỏa thuận miệng, không có công chứng, chứng th c và cũng không có th c hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định nên không được dùng là tài sản đảm bảo thi hành án. Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng đã chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n như đã phân tích tại [2.3]. Do đó, để bảo vệ quyền s h u về tài sản và giải quy t triệt để v án, xét cần buộc bà Nguyễn Thị T giao trả lại cho ông Trần Văn H bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất là có căn cứ chấp nhận theo Điều 64 và khoản Điều 579 Bộ luật dân s năm 0 5.

Từ nh ng nhận định và phân tích nêu trên, buộc bà Phạm Thị U và ông Trần Văn H cùng có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền vay là 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) đồng là có căn cứ chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị T giao trả lại cho ông Trần Văn H bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho ông Trần Văn H đứng tên là phù hợp và có căn cứ.

Về án phí dân s s th m: Do yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị T được chấp nhận nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Trần Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản Điều

Nghị quy t số 3 6 0 6 UBTVQH 4 ngày 30 tháng năm 0 6 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử d ng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị U phải chịu án phí dân s s th m theo quy định.

ét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 64, Điều 579 Bộ luật dân s năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 6, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản Điều 39, Điều 47, Điều 7 , Điều 73 Bộ luật Tố t ng dân s năm 0 5;

Căn cứ điểm đ khoản Điều ; khoản Điều 6 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

ử:

1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị T.

Buộc bà Phạm Thị U, ông Trần Văn H cùng có nghĩa v trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền vay là 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) đồng.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s năm 0 5.

2. Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa v giao trả lại cho ông Trần Văn H bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 03454 QSDĐ kD do Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu (nay là UBND thị xã Tân Châu) cấp ngày 9 8 00 cho ông Trần Văn H đứng tên.

3. Về án phí dân s s th m:

Bà Phạm Thị U phải chịu 562.500 đồng (năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân s s th m. Ông Trần Văn H được miễn án phí dân s s th m.

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.125.000 đồng (một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) theo biên lai T số 0007748 ngày 4 tháng 3 năm 0 4 của Chi c c Thi hành án dân s thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

4. Các đư ng s có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ