- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Huỳnh Văn T yêu cầu ông Lâm Văn T phải trả lại tiền vay và lãi suất"
- Tòa quyết gì? Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/DS-ST Ngày: 29/7/2024. V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đắc Thắng.
2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2024/TLST-DS, ngày 29 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-DS, ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T – sinh năm 1977, có mặt.
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Lâm Văn M – sinh năm 1983, có mặt.
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T như sau:
Vào ngày 15/10/2022 âm lịch, ông có cho ông Lâm Văn M vay số tiền 30.000.000đồng, khi vay ông Lâm Văn M có viết biên nhận và ký tên. Sau đó, ông Lâm Văn M có trả cho ông 03 lần với tổng số tiền bằng 19.000.000đồng, khi cho vay hai bên có thỏa thuận lãi suất. Từ khi vay đến nay, thời gian tính tròn bằng 20 tháng. Ông tính lãi theo quy định của pháp luật bằng 20%/năm, như vậy, số tiền lãi sẽ bằng 10.000.000đồng. Đối với số tiền ông đã nhận của ông M bằng 19.000.000đồng, ông trừ tiền lãi bằng 10.000.000đồng, còn lại 9.000.000đồng ông đồng ý khấu trừ vào vốn. Như vậy, tiền vốn còn lại bằng 21.000.000đồng.
Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gò Quao buộc ông Lâm Văn M phải trả cho ông số tiền nợ còn lại là 21.000.000đồng và không yêu cầu tính lãi suất đến khi xét xử vụ kiện. Ông chỉ yêu cầu ông Lâm Văn M trả số nợ này ông không yêu cầu vợ ông Lâm Văn M liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho ông. Đồng thời, ông yêu cầu ông Lâm Văn M trả dứt một lần số tiền 21.000.000đồng, không đồng ý cho trả dần.
Bị đơn ông Lâm Văn M trình bày:
Ông thừa nhận có vay của ông Huỳnh Văn T 30.000.000đồng, khi cho vay hai bên có thỏa thuận lãi suất bằng 5.000đồng/1.000.000đồng/ngày. Ông đã trả cho ông T là 19.000.000đồng. Ông yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật và trừ số tiền ông đã trả cho ông T, sau khi trừ hết lãi còn bao nhiêu thì khấu trừ vào vốn gốc.
Nay ông thống nhất với số tiền 21.000.000đồng mà ông T yêu cầu. Ông đồng ý trả cho ông Huỳnh Văn T số tiền ông còn nợ bằng 21.000.000đồng nhưng hiện tại ông không có khả năng trả liền hết số tiền này nên ông xin trả dần hàng tháng mỗi tháng bằng 2.000.000đồng, thời gian trả nợ tính từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả hết số tiền này.
Tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn T yêu cầu ông Lâm Văn M phải trả cho ông số tiền 21.000.000đồng, ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, ông Lâm Văn M đồng ý trả số tiền 21.000.000đồng mà ông Huỳnh Văn T kiện nhưng ông yêu cầu được trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả 2.000.000đồng. Ông thống nhất với mức lãi suất ông T yêu cầu bằng 20%/năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Huỳnh Văn T với ông Lâm Văn M, là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung: Quan hệ tranh chấp giữa ông Huỳnh Văn T và ông Lâm Văn M là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Khi ông Huỳnh Văn T cho ông Lâm Văn M vay tiền, hai bên có viết biên nhận nợ ngày 15/10/2022 âm lịch, ông Lâm Văn M cũng thừa nhận có vay của ông Huỳnh Văn T tổng số tiền bằng 30.000.000đồng. Sau khi vay, phía ông Lâm Văn M đã trả cho ông Huỳnh Văn T số tiền 19.000.000đồng, thời gian từ khi vay đến nay hai bên đương sự thỏa thuận tính tròn bằng 20 tháng và lãi suất tính theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm thì số tiền lãi bằng 10.000.000đồng. Phía ông Huỳnh Văn T đồng ý trừ 9.000.000đồng đã nhận của ông M vào vốn gốc. Như vậy, vốn gốc ông Lâm Văn M còn nợ ông Huỳnh Văn T bằng 21.000.000đồng. Đây là thỏa thuận được các bên thống nhất nên theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì ông Huỳnh Văn T không cần phải chứng minh, vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với số tiền 21.000.000đồng hiện ông Lâm Văn M còn nợ là có cơ sở chấp nhận. Do phía ông Lâm Văn M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Huỳnh Văn T nên căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn T về việc buộc ông Lâm Văn M phải trả cho ông Huỳnh Văn T số tiền 21.000.000đồng.
Đối với yêu cầu của ông Lâm Văn M xin trả dần số tiền 21.000.000đồng cho ông Huỳnh Văn T bằng cách trả dần mỗi tháng bằng 2.000.000đồng cho đến khi hết số nợ trên, tuy nhiên, phía ông Huỳnh Văn T không thống nhất nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về lãi suất: Ông Huỳnh Văn T rút yêu cầu tính lãi đối với số tiền 21.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử vụ kiện nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí buộc ông Lâm Văn M phải nộp số tiền 1.050.000đồng (21.000.000đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 217, 218, 219, 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T.
Xử: Buộc ông Lâm Văn M phải có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn T số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận bằng 20%/năm.
Đình chỉ yêu cầu tính lãi đối với số tiền 21.000.000đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lâm Văn M phải nộp số tiền 1.050.000 đồng.
Ông Huỳnh Văn T được nhận lại 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006001 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
“Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |