- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Tòng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:34/2023/HSST Ngày:15/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với T phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quý Minh Ánh.
2. Ông Nguyễn Hồng Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến-Thư ký Tòa án nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy-Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:20/2023/QĐXX-ST ngày 31/01/2023 đối với bị cáo:
Tòng Xuân T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985 tại Điện Biên; trú tại: Bản NH, xã PL, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn B và bà Lê Thị B; bị cáo có vợ là Lù Thị T, vợ chồng bị cáo có 02 con chung (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012).
Tiền án, Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, giam từ ngày 02/10/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
*Người chứng kiến:
1. Ông Lê Hồng Th, sinh năm 1965;
Trú tại: Tổ dân phố KT, phường TT, thành phố phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1965;
Trú tại: Tổ dân phố CT, phường TT, thành phố phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông Th, ông T đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút ngày 02/10/2022, Tổ công tác của Công an T phố Phổ Yên và Công an phường TT, thành phố Phổ Yên phối hợp tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại địa bàn phường TT thì phát hiện một đối tượng là nam giới sau xác định được là Tòng Xuân T có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy tại hành lang bên trái đường quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc địa phận tổ dân phố KT, phường TT, thành phố phố Phổ Yên. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T tự giác lấy trong lòng bàn tay phải giao nộp cho tổ công tác 02 gói giấy, bên trong mỗi gói giấy có chứa chất rắn màu trắng đục. T khai số chất rắn màu trắng đục là ma túy loại Heroine, T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với T, niêm phong số vật chứng thu giữ đưa về cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Tòng Xuân T được 0,176 gam. Lấy toàn bộ chất rắn màu trắng đục cho vào phong bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1584/KL-KTHS ngày 10/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu H gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine. Khối lượng là: 0,176gam.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 13 giờ ngày 02/10/2022, T đi xe khách đến gần khu vực chợ Phổ Yên để xin việc làm nhưng không xin được nên T đi về nhà. Trên đường về đến tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, T xuống xe để mua ma túy về sử dụng. T đi bộ đến trước cửa một ngôi nhà có cửa xếp bằng sắt đóng kín nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. Đứng trước cửa ngôi nhà, T cầm tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ dưới cửa sát nền bê tông vào trong ngôi nhà thì có người trong nhà cầm tiền rồi đưa cho T 02 gói giấy, bên trong đều có ma túy Heroine. T không biết chủ nhân ngôi nhà này và người bán ma túy cho mình là ai. Sau khi mua được ma túy, T cầm trong tay phải và ra chuẩn bị bắt xe đi về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ số vật chứng như nêu ở trên.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Tòng Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo đã thừa nhận ngày 02/10/2022 đã có hành vi tàng trữ 0,176 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.
Tại Bản cáo trạng số: 18/CT- VKSPY ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Tòng Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tòng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tòng Xuân T từ 18 đến 24 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,169 gam mẫu H còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.
Phần tranh luận: Bị cáo T không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T phố Phổ Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Th, ông T vắng mặt. Bị cáo T và đại diện viện Kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Tòng Xuân T là người nghiện ma tuý, khoảng 13 giờ ngày 02/10/2022, T đi xe khách đến gần khu vực chợ Phổ Yên để xin việc làm nhưng không xin được nên T đi về nhà. Trên đường về đến tổ dân phố K T, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, T xuống xe để mua ma túy về sử dụng. T đi bộ đến trước cửa một ngôi nhà có cửa xếp bằng sắt đóng kín nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. Đứng trước cửa ngôi nhà, T cầm tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ dưới cửa sát nền bê tông vào trong ngôi nhà thì có người trong nhà cầm tiền rồi đưa cho T 02 (hai) gói giấy, bên trong đều có ma túy Heroine có tổng trọng lượng là 0,176gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác. Sau khi mua được số ma túy trên, T cầm trong tay phải rồi đi bộ ra hành lang Quốc lộ 3 cũ để chuẩn bị bắt xe đi về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ toàn bộ số vật chứng nêu trên. Như vậy hành vi, ý thức nêu trên của Tòng Xuân T đã đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Tòng Xuân T theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, tiếp tay cho những đối tượng mua bán chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, gây bất bình trong nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, để cải tạo giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa tội phạm.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9 rồi nghỉ học, do thiếu tu dưỡng rèn luyện, thiếu bản lĩnh nên đã mắc nghiện ma tuý. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo T người tốt được.
Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,169 gam mẫu H còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho. Đây là số ma tuý còn lại sau giám định và là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Tòng Xuân T, theo T khai mua của một người bên trong ngôi nhà đóng kín cửa bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 (cũ) hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc Tổ dân phố K T, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, T không biết chủ ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Tòng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tòng Xuân T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/10/2022.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Tòng Xuân T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,169 gam mẫu H còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an T phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự T phố Phổ Yên ngày 06/ 01/2023”.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tòng Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà Nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND T phố Phổ Yên; - Công an T phố Phổ Yên; - CCTHA T phố Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND xã PL; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thị Thu Thủy |