- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nịnh Quang Hải - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HSST Ngày 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Ông Nguyễn Quang Huy
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2023, đối với:
- Bị cáo: Nịnh Quang H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983
Nơi cư trú: Xóm 1, xã PĐ, huyện PL, tỉnh TN
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Sán Chí; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Nịnh Văn L, sinh năm 19586 và con bà Trần Thị S, sinh năm 1954; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Lý Thị M, sinh năm 1983 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009.
Tiền án: 01. Tại bản án số 545/2020/HSST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Nịnh Quang H 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2021.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Mai Văn Việt, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 4, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, tổ công tác của Công an phường QT, thành phố TN đang tuần tra kiểm soát tại khu vực thuộc tổ 8 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Nịnh Quang H và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi quần phía trước bên trái đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng. H khai nhận đó là ma túy Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác của công an phường QT, thành phố TN đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của H có khối lượng là 0,301 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng cho vào bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 41 ngày 24/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,301 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nịnh Quang H khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2022, H đi xe buýt từ nhà xuống khu vực bến xe khách Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, H gặp và mua được của người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine gồm 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy màu trắng, với số tiền 100.000 đồng Mua được ma túy H cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi bắt xe buýt đi về nhà. Khi đi đến khu vực thuộc phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên thì H xuống xe rồi đi tìm nơi sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của công an phường QT, thành phố TN phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu A2, A3. Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTPTN, ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nịnh Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 32/CT-VKSNDTP ngày 16/01/2023 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nịnh Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nịnh Quang H mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A2,A3 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nịnh Quang H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 15/12/2022, tại khu vực tổ 8, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Nịnh Quang H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,301 gam ma túy loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo H khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,301 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Nịnh Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTPTN ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
...
c) Heroin…..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân mà tiếp tục đi vào con đường nghiện ngập, phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Nguồn gốc số ma túy loại Heroine, Nịnh Quang H khai mua một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người thanh niên trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
. Vật chứng vụ án:
02 bì niêm phong ký hiệu A2,A3 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nịnh Quang H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nịnh Quang H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (hoàn trả 0,291 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu A2), mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên cùng chữ ký của Ma Nhật A, Nguyễn Thành Tr.
+ 01bì niêm phong ký hiệu A3 mặt sau phong bì có 03 dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyê cùng chữ ký của Quách Minh H, Quản Mỹ H, Tống Hoàng H, Ngô Hoàng Đ, Mai Văn Vi, Nịnh Quang H.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 233 ngày 09/2/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nịnh Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |