- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Yên - MBMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TuY bố: Bị cáo Nguyễn Thị Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HSST Ngày: 15-02 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải
Bà Nguyễn Thị Minh Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Y; sinh năm 1977 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Vũ Thị T; có chồng (đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ngày 26-10-2022, chuyển tạm giam ngày 04-11-2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 26-10-2022, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ven bờ sông Đ thuộc thôn Vị L xã N thành phố N phát hiện Nguyễn Thị Y đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, Y tự giao nộp từ tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Y khai là gói Heroine mục đích mua về để bán kiếm lời). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng ký hiệu M và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Y. Ngoài ra còn thu giữ trên tay phải Y số tiền 100.000 đồng (trong đó Y khai có 50.000 đồng là tiền lãi do bán ma túy cho khách).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Y tại địa chỉ thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Quá trình khám xét không thu giữ, tạm giữ gì.
Bản Kết luận giám định số 1565/KL-KTHS ngày 31-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị Y, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng mẫu M: 0,131 (không phảy một trăm ba mươi mốt) gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Y khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26-10-2022, Y đang ở nhà thì có một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi đến hỏi mua một gói Heroine với giá 100.000 đồng. Y đồng ý, nhận tiền bảo nam thanh niên ra khu vực bờ sông Đ đứng đợi. Sau đó, Y cầm 100.000 đồng của nam thanh niên và 50.000 đồng của Y rồi đi bộ đến nhà chị H (là hàng xóm của Y) mua 01 gói Heroine với số tiền 50.000 đồng; còn lại 100.000 đồng (trong đó có 50.000 đồng tiền lãi bán ma túy và 50.000 đồng của Y). Y cầm gói Heroine trên tay trái mang đi bán thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan điều tra phối hợp với Công an xã N, thành phố N xác minh đối tượng tên Hà (theo lời khai của Y là người bán ma túy cho Y). Kết quả xác minh có Trần Thị Hà, sinh năm 1984, trú tại thôn Vị Lương, xã N, thành phố N ở cạnh nhà Y. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, ghi lời khai Trần Thị Hà: Khoảng 16 giờ ngày 26-10-2022 Hà đến nhà ông Đoàn Văn H, sinh năm 1962, trú tại: 57 Đ, phường C, thành phố N (bố chồng H). Đến khoảng 02 giờ ngày 27-10-2022 Hà về nhà, thời gian ở nhà ông Ho, H không đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra tiến hành ghi lời khai của ông Đoàn Văn H: Do nhà có việc, khoảng 16 giờ ngày 26-10-2022 Hà đến nhà ông chơi. Đến khoảng 02 giờ ngày 27-10-2022 thì H đi về, trong thời gian ở nhà ông H không thấy Hà đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập Trần Thị H để tiến hành đối chất, hiện tại Hà không có mặt ở địa phương, đi đâu, làm gì không rõ nên tách ra xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTPNĐ ngày 06-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Thị Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Y khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguY quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 5 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuY bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 33 tháng tù; áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung quỹ nhà nước; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Y không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Y, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 1565/KL-KTHS ngày 31-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 26-10-2022, tại khu vực ven bờ sông Đào thuộc thôn Vị Lương xã N thành phố N, Nguyễn Thị Y bị Công an thành phố N bắt quả tang có hành vi cất giấu 0,131 gam Heroine mục đích để bán. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là một trong những nguY nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phạt tiền đối với bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó 50.000 là tiền bị cáo hưởng lợi từ việc bán ma túy nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước, số tiền 50.000 đồng còn lại là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với đối tượng tên Hà đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. TuY bố: Bị cáo Nguyễn Thị Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 26-10-2022.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1565/KL-KTHS; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng. Trả lại bị cáo số tiền 50.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Y phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện ện |