vanban.org

Bản án 34/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HSST
Ngày: 09-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Thùy; Ông Trần Đình Phấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà : Bà Khổng Thị Tươi – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo,

Phạm Đức K-sinh ngày: 13/05/1997; nơi cư trú: Xóm 1, xã h, huyện G, Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T và Phạm Thị T; bị cáo có vợ Trần Thị Như Q (đã chết) ; bị cáo có 1 con sinh năm 2019, tiền án, tiền sự : Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/01/2023 đến nay. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Bị hại: ông Vũ Thành D; sinh năm: 1947; trú tại: xóm 1, xã X, huyện Xu, tỉnh Nam Định (đã chết).

-Người đại diện của bị hại; Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1979; địa chỉ; Đội 9, Thôn H, xã Đ, huyện A, Tp Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Vũ Văn H; vắng mặt.

- Người chứng kiến:

-Ông Nguyễn Thanh N; vắng mặt.

-Ông Phạm Đức T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- 1 -

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đức K có giấy phép lái xe theo quy định, chiều ngày 18/9/2022 K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu: LACETTI, sơn màu: đen BKS: 18A-038.42, chở anh Vũ Đức H; sinh năm: 1995; nơi cư trú: xóm 6, xã X, huyện X, đi trên đường tỉnh lộ 488, hướng từ xã Xuân Thành đi xã Xuân Hồng. Đến khoảng 16 giờ 06 phút cùng ngày, K điều khiển xe đến khu vực xóm 3, xã Xuân Thủy nơi có ngã ba giao nhau giữa đường tỉnh lộ 488 với đường đi xã Xuân Thủy, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách với xe đi liền trước, giành đường, vượt ẩu nên mặt ngoài ba đờ sốc bên phải xe ô tô BKS: 18A – 038.42 va chạm với mặt sau ốp nhựa bảo vệ bình ác quy bên trái xe đạp điện màu đen bạc do ông Vũ Thành D; sinh năm: 1947; trú tại: xóm 1, xã X, huyện X điều khiển đi phía trước, cùng chiều. Hậu quả: ông Vũ Thành D được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đến 02 giờ 30 ngày 19/9/2022 tử vong; hai phương tiện bị hư hỏng.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ và chính quyền địa phương tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết trên phương tiện và trưng cầu giám định nguyên nhân chết của ông Vũ Thành D.

Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn nằm trên trục đường tỉnh lộ 488 và ngã ba giao nhau, thuộc địa phận xóm 3, xã Xuân Thủy, huyện Xuân Trường. Nơi xảy ra vụ việc có lòng đường rộng 07m, lề đường phía tay phải theo chiều tiến của xe rộng 1,5m, giáp lề đường là sông. Lề đường phía tay trái rộng 2 m giáp lề đường là khu dân cư xóm 3, xã Xuân Thủy. Hiện trường không còn nguyên vẹn, do quá trình cấp cứu nạn nhân. Hiện trường phát hiện, ghi nhận: 03 dấu vết cày; đều có chiều hướng từ xã Xuân Phong đi xã Xuân Hồng, vết số 1 dài 0,28m cách mép đường làm chuẩn là 3,43m và 3,45m, đầu vết cách điểm gần nhất của mốc hiện trường là 17,9m; 01 đám nhựa vỡ, 02 mảnh nhựa vỡ; 01 xe đạp điện.

Khám phương tiện:

Xe ô tô BKS: 18A-038.42: Mặt trước ba đờ sốc trước từ mặt đất lên 25cm, từ mép sau về trước 13cm có vết trượt xước nhựa, bong tróc sơn, lộ ra bên trong chất màu bạc, kích thước (41,5 x 36)cm; từ mép sau về trước 16cm, từ mặt đất lên 25cm có vết vỡ, cào xước nhựa bám dính chất màu đen, kích thước (21 x 07)cm...

Xe đạp điện: Ốp nhựa bảo vệ bình ác quy gãy và rời khỏi xe, gá ốp nhựa nayg vào vị trí ban đầu, mặt sau rải rác có các vết trượt xước, kích thước (2x0,5cm), chiều hướng vết từ sau về trước, điểm cao nhất cách mặt đất 44,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 35 cm.

Khám nghiệm tử thi: Tại gia đình ông Vũ Thành D, sinh năm: 1947; trú tại: xóm 1, xã X, huyện X: Vùng thái dương đỉnh trái có đám sưng nề bầm tím tụ máu dưới da cơ KT 09 x 08 cm; Vỡ nứt xương hộp sọ vùng thái dương trái dài 4,5cm, qua đường vỡ có nước máu không đông chảy ra.

- 2 -

Tại Bản kết luận giám định số: 1360/KL-KTHS ngày 29/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Nạn nhân Vũ Thành D chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Cơ chế: do va đập và chà sát.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Phạm Đức K và gia đình tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại anh Vũ Mạnh T số tiền: 175.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi năm triệu đồng). Hiện anh T không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Đức K.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Đức K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 28/QĐ-KSĐT ngày 12/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Phạm Đức K để xét xử về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đã đánh giá hành vi phạm tội, phân tích về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Về tội danh và hình phạt chính: Tuyên bố Phạm Đức K phạm tội ‘Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’;

Xử phạt Phạm Đức K từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nữa là phù hợp.

Về xử lý vật chứng; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị HĐXX: Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1482/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 04 mảnh nhựa vỡ

Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với Kiểm sát viên.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ’, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 3 -

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc kết tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay thể hiện thống nhất với lời khai của bị cáo trước đây tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản hiện trường, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết hợp cùng với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ sơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ 6 phút ngày 18/9/2022, Phạm Đức K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu: LACETTI, sơn màu: đen, BKS: 18A-038.42 đi trên đường tỉnh lộ 488, hướng từ xã Xuân Thành đi xã Xuân Hồng. Khi đi đến ngã ba giao nhau giữa đường tỉnh lộ 488 với đường đi xã Xuân Thủy, thuộc khu vực xóm 3, xã Xuân Thủy, huyện Xuân Trường do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách với xe đi liền trước, giành đường, vượt ẩu (vi phạm khoản 11, khoản 23, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 11 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ GTVT) nên xô vào xe đạp điện của ông Vũ Thành D điều khiển đi cùng chiều. Làm ông D tử vong do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ.Vì vậy, hình vi của bị cáo đã cấu thành tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Phạm Đức K là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm về trật tự an toàn giao thông công cộng trên lĩnh vực giao thông đường bộ, còn gây thiệt hại về sức khỏe tính mạng cho người khác cũng như tài sản. Tai nạn giao thông đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, gây nên tâm lý bất an lo lắng cho những người tham gia giao thông, hàng ngày chúng ta phải chứng kiến nhiều sinh mạng bị cướp đi bởi tai nạn giao thông. Trong khi toàn xã hội đang tìm giải pháp pháp để giảm thiểu những vụ tai nạn giao thông, nguyên nhân do ý thức của những người khi tham gia giao thông không tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh về luật giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, khi đi đến ngã ba giao nhau giữa đường tỉnh lộ 488 với đường đi xã Xuân Thủy, thuộc khu vực xóm 3, xã Xuân Thủy, huyện Xuân Trường bị cáo do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách với xe đi liền trước, giành đường, vượt ẩu dẫn đến gây tai nạn cho ông Vũ Thành D hậu quả ông D chết. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt theo quy định của pháp luật vừa có tác dụng răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.

- 4 -

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện cho bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, con còn nhỏ, vợ đã chết nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chị bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là phù hợp đủ tác dụng giao dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nữa nên HĐXX không xem xét là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 4 mảnh nhựa vỡ và 01 (một) phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1482/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định không có giá trị tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐINH:

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức K phạm tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt bị cáo Phạm Đức K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tháng tù cho hưởng án treo, thởi gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Đức K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Phạm Đức K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng; Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1482/KL-KTHS của

- 5 -

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 4 mảnh nhựa vỡ.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 43/THA ngày 17/4/2023 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Phạm Đức K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ