- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán sản xuất hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Th phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo Tô Văn Đ phạm tội “tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:34/2023/HSST Ngày: 30/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hữu Nhƣ Ngọc và bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị An - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dƣơng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2023 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30 ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
Hồ Thị Th – tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày 08/8/1988; Nơi ĐKHKTT: Xóm Sơn Th - xã Tam H – Quỳ Hợp – Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Hồ Kim D – sinh năm 1954 và bà Bùi Thị T – sinh năm 1960; chồng: Lê Nam Giang sinh năm 1988 (đã chết) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Tô Văn Đ – tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 27/9/2003; Nơi ĐKHKTT: Xóm Long Th - xã Tam H – Quỳ Hợp – Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Tô Văn Th – sinh năm 1978 và bà Hồ Thị Đ– sinh năm 1976; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2023 cho đến ngày 21/01/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Hồ Thị Th và Tô Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2023, Hồ Thị Th trong lúc vào mạng facebook thì có một tài khoản đăng bán pháo nổ nên Th nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán kiếm lời. Hồ Thị Th nhắn tin liên hệ với tài khoản facebook này thì được báo giá pháo liên hoàn loại 36 quả là 1.000.000đ/ quả, pháo bi là 200.000/01 túi. Hồ Thị Th đặt mua 10 hộp pháo liên hoàn và 05 túi pháo bi với tổng số tiền là 11 triệu đồng. Tối ngày 06/01/2023, người bán pháo hỏi địa chỉ để đưa pháo đến nhà thì được Th cho địa chỉ nhà Th. Tại đây có một người đàn ông cao khoảng 1,65m, mặc áo màu xanh, đi xe Wave trắng đến và đưa cho Th một bì xác rắn bên trong có chứa 10 hộp pháo liên hoàn loại 36 quả và 05 túi pháo bi. Hồ Thị Th nhận pháo và đưa cho người đàn ông này số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng). Sau khi mua được pháo, Hồ Thị Th cất dấu dưới gầm giường phòng ngủ, đồng thời tìm người mua pháo. Tô Văn Đ là người quen biết với Th nên hỏi Th có biết chỗ nào có bán pháo thì Th nói có pháo bán. Chiều ngày 12/01/2023, Đ gọi điện cho Th đặt mua 07 hộp pháo liên hoàn loại 36 quả thì Th báo giá 1.400.000đ/hộp, sau khi báo giá Đ đi đến nhà Th và đặt cọc trước số tiền 800.000đ, sau khi nhận cọc Th hứa khoảng 22 giờ cùng ngày sẽ có pháo cho Đ đồng thời yêu cầu Đ cũng phải giao đủ tiền cho Th. Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, Đ đã chuyển hai lần tiền với tổng số tiền 9.000.000đ cho Th qua tài khoản Ngân hàng. Khi nhận đủ tiền, Th nói Đ đến nhà Th để nhận pháo, Th đưa cho Đ một bì xác rắn bên trong có chứa 07 hộp pháo liên hoàn loại 36 quả. Sau khi nhận được pháo, Đ đã gọi taxi đến chở Đ đi dự lễ đầy tháng của con bạn. Khi xe chở Tô Văn Đ đi đến địa phận xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn thì bị tổ công tác công an huyện Nghĩa Đàn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 07 hộp pháo liên hoàn loại 36 quả, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS màu vàng. Sau khi Tô Văn Đ bị bắt, Hồ Thị Th đã đến cơ quan Điều tra khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 điện thoại iphone 6Plus màu vàng đã qua sử dụng. Khám xét nơi ở của Th, Công an thu giữ 03 hộp pháo loại 36 quả và 05 hộp pháo bi.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 13 tháng 01 năm 2023 của hội đồng niêm phong và mở niêm phong Công an huyện Nghĩa Đàn đã xác định được 07 khối pháo hình hộp thu giữ của Tô Văn Đ có kích thước 14,5x14x10cm trên bề mặt hộp có hình ảnh pháo và các ký tự nước ngoài có khối lượng 8,2kg; 03 khối pháo hình hộp chữ nhật thu giữ của Hồ Thị Th, mỗi khối có kích thước 14,5x14x10cm, trên bề mặt có in hình ảnh pháo và ký tự nước ngoài có khối lượng 3,9 kg; 05 túi bóng bên trong có nhiều khối cầu nhựa nhiều màu sắc, các khối cầu kích thước tương tự nhau và gắn đoạn dây màu xanh thu giữ của Hồ Thị Th có khối lượng 1,1kg.
Tại kết luận giám định số 134/KL–KTHS (Đ2 - CN) ngày 20 tháng 01 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu vật thu giữ của Tô Văn Đ gửi tới giám định là pháo, có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ; Các mẫu vật thu giữ của Hồ Thị Th gửi tới giám định đều là pháo, có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ.
Cáo trạng số 30/VKS – HS ngày 10/4/2023 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Hồ Thị Th về tội “buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 BLHS, truy tố Tô Văn Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: Xử phạt bị cáo Hồ Thị Th từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”; xử phạt bị cáo Tô Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại của bị cáo Hồ Thị Th và Tô Văn Đ; tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo do dùng vào việc phạm tội.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 9.800.000đ (chín triệu tám trăm nghìn đồng) là số tiền thu lợi bất chính tại bị cáo Hồ Thị Th.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Thị Th và bị cáo Tô Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, vật chứng đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Từ đó xác định được vào đầu tháng 01 năm 2023, Hồ Thị Th đã liên hệ qua mạng xã hội để mua pháo nổ về bán kiếm lời với số lượng 10 hộp pháo loại pháo liên hoàn 36 quả hình trụ tròn và 05 túi pháo bi có tổng khối lượng là 13,2 kg với giá 11 triệu đồng. Ngày 12/01/2023, Tô Văn Đ là người cùng xã với Th biết Th có pháo nổ bán nên đã mua 07 hộp pháo liên hoàn loại 36 quả, tổng khối lượng 8,2 kg với giá 1.400.000đ/ 1 hộp mục đích tết về sử dụng. Hành vi của Hồ Thị Th là mua đi bán lại pháo nổ để kiếm lời. Đối với bị cáo Tô Văn Đ mua pháo của Th về để mục đích sử dụng. Đây là loại hàng hóa bị Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Thị Th phạm tội “buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 BLHS, bị cáo Tô Văn Đ phạm tội “tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 BLHS như cáo trạng quy kết là có căn cứ.
Các bị cáo ý thức được hành vi mua bán, tàng trữ loại hàng hóa bị Nhà nước nghiêm cấm gây nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do suy nghĩ muốn kiếm tiền bất hợp pháp cũng như đua đòi đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo Tô Văn Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố bị cáo Th là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến. Bị cáo Th sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 điều 51 BLHS.
Về hoàn cảnh các bị cáo: Đối với bị cáo Hồ Thị Th có 03 con còn nhỏ, chồng bị cáo đã mất. Gia đình thuộc hộ cận nghèo. Đối với bị cáo Tô Văn Đ đang sống phụ thuộc vào gia đình, gia đình thuộc hộ cận nghèo.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy chưa cần phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo phạt tù hưởng án treo như đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn. Gia đình các bị cáo đều thuộc hộ cận nghèo nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tang vật vụ án: Xét thấy số pháo còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định thu của bị cáo Th và bị cáo Đ là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 chiếc điện thoại trong đó 01 chiếc điện di động nhãn hiệu iphone 6Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei: 354453061844000 bên trong gắn 01 thẻ sim vietel thu giữ của Hồ Thị Th; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS màu vàng đã qua sử dụng có imei 1: 357201097130895, ime2: 357201097329570 bên trong gắn 01 sim vinaphone thu giữ của Tô Văn Đ là những phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua, bán hàng cấm cần tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 9.800.000đ (chín triệu tám trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo Hồ Thị Th thu lợi bất chính cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí HSST.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Th phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo Tô Văn Đ phạm tội “tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điềm c khoản 1 điều 190; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 BLHS đối với Hồ Thị Th.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 191; điểm s, i khoản 1 điều 51, điều 65 BLHS đối với Tô Văn Đ.
Xử phạt bị cáo Hồ Thị Th 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Tô Văn Đ 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hồ Thị Th, Tô Văn Đ về cho UBND xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 thùng caton có kích thước (50x30x20)cm bên trong có 06 khối hình hộp chữ nhật bên ngoài được bọc bằng giấy in có hình ảnh pháo có khối lượng 6,9kg là vật chứng thu giữ của Tô Văn Đ; 01 thùng catton kích thước (50x30x27)cm bên trong có 02 khối hình hộp chữ nhật bên ngoài được bọc bằng giấy in hình ảnh pháo có khối lượng 2,6kg và 04 túi bóng có khối lượng 0,875 kg là vật chứng thu giữ của Hồ Thị Th.
Tịch thu để bán hóa giá 2 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo. Đặc điểm cụ thể: 01 chiếc điện di động nhãn hiệu iphone 6Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei: 354453061844000 bên trong gắn 01 thẻ sim vietel của Hồ Thị Th; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS màu vàng đã qua sử dụng có imei 1: 357201097130895, ime2: 357201097329570 bên trong gắn 01 sim vinaphone của Tô Văn Đ.
Truy thu tại bị cáo Hồ Thị Th số tiền 9.800.000đ (chín triệu tám trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí cho các bị cáo do các bị cáo là hộ cận nghèo.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - Công an huyện; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã nơi b/c cư trú; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |