vanban.org

Bản án 34/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐP
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 19- 5- 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật

Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuân - Thẩm tra viên chính, Toà án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/HSST-QĐ ngày 21/4/2023 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1963 tại xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 1, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Đ (đều đã chết); có vợ và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1991); tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 035 lập ngày 17/01/2023 tại Công an huyện ĐP; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022; tạm giam: Không. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn 1, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; có mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 27, ngõ 2, thôn 5, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn 2, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Lương Thị H1, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Khu Thành Lập, xã LS, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn 3, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua tin báo tố giác tội phạm, Cơ quan điều tra Công an huyện ĐP tiến hành điều tra hành vi của Nguyễn Văn Th, phát hiện Nguyễn Văn Th có hành vi bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại cụ thể như sau:

Khoảng 17 giờ 28 phút ngày 19/12/2022, Nguyễn Hữu K sử dụng điện thoại di động Nokia 1280 lắp số thuê bao 0978.989.369 nhắn tin đến số điện thoại di động Nokia lắp số sim 0382.326.300 của Nguyễn Văn Th mua các số đề A (hai số đầu giải đặc biệt) 24, 42 mỗi số 1.000.000 đồng; đề A 24, 42 mỗi số 1.000.000 đồng; đề B (hai số cuối giải đặc biệt) 01, 10 mỗi số 200.000 đồng, đề B 01, 10 mỗi số 100.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Hữu K mua số đề của Nguyễn Văn Th là 4.600.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 01 phút ngày 19/12/2022, Hoàng Văn Đ1 sử dụng điện thoại di động Nokia 105 lắp số thuê bao 0989.208.274 nhắn tin đến số điện thoại di động Nokia lắp số sim 0382.326.300 của Nguyễn Văn Th mua các số đề B10, 01 mỗi số 100.000 đồng, bằng 200.000 đồng; mua số lô B 15 x 30 điểm bằng 660.000 đồng. Tổng số tiền Hoàng Văn Đ1 mua số lô, số đề của Nguyễn Văn Th là 860.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/12/2022, Nguyễn Văn H sử dụng điện thoại di động Oppo F3 lắp số thuê bao 0868.183.247 nhắn tin đến số điện thoại di động Nokia lắp số sim 0382.326.300 của Nguyễn Văn Th mua các số lô B 02, 17, 88, 05 mỗi số 30 điểm bằng 2.640.000 đồng; số đề 63, 89, 19, 97, 91, 98 mỗi số 100.000 đồng bằng 600.000 đồng; số đề B 15, 51, 56, 65 mỗi số 50.000 đồng bằng 200.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn H mua số lô, số đề của Nguyễn Văn Th là 3.440.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 19/12/2022, Lương Thị H1 sử dụng điện thoại di động Iphone 6S plus lắp số thuê bao 0373.470.723 nhắn tin đến số điện thoại di động Nokia lắp số sim 0382.326.300 của Nguyễn Văn Th mua các số đề A 37, 73, 11, 66, 09, 90 mỗi số 10.000 đồng bằng 80.000 đồng; đề kép B số 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 10.000 đồng bằng 100.000 đồng. Tổng số tiền Lương Thị H1 mua số đề của Nguyễn Văn Th là 240.000 đồng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Th khai bán các số lô số đề cho những người trên với giá 80% số tiền đánh đối với số đề và 22.000 đồng/điểm lô, kết quả thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thường cùng ngày với tỷ lệ 1.000 đồng tiền đề trúng được 70.000 đồng; 01 điểm lô trúng được 80.000 đồng. Sau khi bán các số lô, số đề cho các đối tượng nêu trên Th sẽ chuyển lại cho Nguyễn Quý H2, sinh năm 1973, nơi ĐKNKTT: Thôn 3, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 5, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội để hưởng tiền chênh lệch nhưng Nguyễn Quý H2 không thừa nhận việc nhận số lô, số đề của Nguyễn Văn Th, cơ quan điều tra cũng không thu giữ được tài liệu gì chứng minh Nguyễn Quý H2 nhận bảng số lô, số đề do Th chuyển.

Cáo trạng số 23/CT- VKS - ĐP ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Nguyễn Văn Th khai, do không có việc làm nên bị cáo nảy sinh ý định bán số lô, số đề để kiếm tiền. Bị cáo đã thực hiện việc bán số lô, số đề được khoảng vài tháng cho nhiều người khác nhau nhưng bị cáo không nhớ cụ thể người nào và bán bao nhiêu tiền vì bị cáo không ghi chép lại. Đến ngày 19/12/2022, khi bị cáo bán số lô, số đề cho Nguyễn Hữu K, Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Văn H và Lương Thị H1 như nêu trên thì bị phát hiện. Khi bị phát hiện, chưa có kết quả mở thưởng xổ số Miền Bắc nên chưa biết thắng, thua thế nào. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố Nguyễn Văn Th về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Th từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp số thuê bao 0382.326.300 và 0966.970.651; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp số thuê bao 0978.989.369; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo F3 bên trong lắp số thuê bao 0868.183.247; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus bên trong lắp số thuê bao 0989.208.274 và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 bên trong lắp số thuê bao 0989208274 là của Nguyễn Hữu K, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn H, Lương Thị H1 và Hoàng Văn Đ1 sử dụng vào việc đánh bạc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát đều được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và đúng căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Do hám lợi nên trong khoảng thời gian từ 17 giờ 28 phút đến 18 giờ 10 phút ngày 19/12/2022, tại nơi cư trú của mình ở thôn 1, xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Th đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại cho nhiều người với tổng số tiền 9.140.000 đồng, cụ thể Nguyễn Văn Th đã bán cho Nguyễn Hữu K 4.600.000 đồng tiền số đề, bán cho Nguyễn Văn H 3.440.000 đồng tiền số lô và số đề, bán cho Hoàng Văn Đ1 860.000 đồng tiền số lô và số đề, bán cho Lưu Thị H1 240.000 đồng tiền số đề. Sau khi mua, bán số lô, số đề cho nhau, các bên căn cứ vào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc, mở thưởng cùng ngày để xác định thắng, thua. Khi hành vi đánh bạc, của Nguyễn Văn Th với K, H, Đ1 và H1 bị phát hiện, kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc chưa mở thưởng.

Hành vi mua bán số lô, số đề thắng thua bằng tiền như nêu trên của Nguyễn Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Trò chơi cờ bạc giúp cho người chơi có thể kiếm được tiền mà không phải lao động, làm việc vất vả từ đó khiến cho nhiều người muốn chơi và dễ dàng lấn sâu. Ham mê đánh bạc làm ảnh hưởng trực tiếp đến người chơi, ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình. Ham mê cờ, bạc còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Do đó đánh bạc bị coi là một tệ nạn của xã hội và bị nhà nước nghiêm cấm. Bị cáo là người có độ tuổi chín chắn, có đủ nhận thức để hiểu biết hậu quả do hành vi đánh bạc của mình gây ra nhưng bị cáo coi thường pháp luật, muốn kiếm tiền dễ dàng, nhanh chóng mà không cần lao động vất vả nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ trong thời gian ngắn chưa đến một giờ đồng hồ bị cáo đã bán số lô, số đề cho nhiều người với số tiền đánh bạc 9.140.000 đồng. Với ý thức và mức độ phạm tội như vậy, lẽ ra Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo tuổi đã cao, phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung

Theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người cao tuổi, không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Hữu K, Nguyễn Văn H, Hoàng Văn Đ1 và Lương Thị H1 có hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hay tổ chức đánh bạc, Cơ quan điều tra Công an huyện ĐP không khởi tố và đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này là đúng pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Th còn khai sau khi bán được số lô, số đề cho các đối tượng K, H, Đ1 và H1 đánh thì bị cáo chuyển toàn bộ bảng số lô, số đề trên cho Nguyễn Quý H2 để hưởng chênh lệch. Cơ quan điều tra đã khám xét thu giữ một số tài liệu tại nhà của Nguyễn Quý H2. Tuy nhiên, Hiền không thừa nhận đã nhận bảng số lô, số đề của bị cáo Th chuyển, các tài liệu cơ quan điều tra thu giữ cũng không liên quan đến hành vi phạm của bị cáo Th. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện ĐP đã trả lại các tài liệu và không xử lý đối với Nguyễn Quý H2 là đúng.

Về áp dụng các biện pháp tư pháp: Số tiền Nguyễn Hữu K, Nguyễn Văn H, Hoàng Văn Đ1 và Lương Thị H1 dùng để đánh bạc với Nguyễn Văn Th phải bị truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp số thuê bao 0382.326.300 và 0966.970.651; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp số thuê bao 0978.989.369; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo F3 bên trong lắp số thuê bao 0868.183.247; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus bên trong lắp số thuê bao 0989.208.274 và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 bên trong lắp số thuê bao 0989208274 là của Nguyễn Hữu K, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn H, Lương Thị H1 và Hoàng Văn Đ1 sử dụng vào việc đánh bạc nên cũng phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã TM, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.600.000 đồng của Nguyễn Hữu K, số tiền 3.440.000 đồng của Nguyễn Văn H, số tiền 860.000 đồng của Hoàng Văn Đ1 và số tiền 240.000 đồng của Lương Thị H1.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng bên trong lắp 01 (một) sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng có lắp 02 (hai) sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F3 đã qua sử dụng bên trong lắp 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu xám bạc đã qua sử dụng có lắp 01 sim; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng có lắp 01 sim. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện ĐP với Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, thành phố Hà Nội lập ngày 18/4/2023).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ