vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Vũ Tiến Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Vũ Tiến Ch 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/01/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VŨ tiến Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vũ Tiến Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 06-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tòng

2. Ông Nguyễn Duy Biên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Tiến Ch - Sinh năm 1987, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Vũ Tiến C (đã chết) và bà: Hoàng Thị Ph - Sinh năm 1967; Có vợ: Đậu Thị H - Sinh năm 1987; Có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 116/2012/HSST ngày 10/10/2012 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2013/HSST ngày 29/01/2013 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 116/2012/HSST ngày 10/10/2012 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa, buộc phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 04 tháng 04 ngày.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Văn T - Sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Vũ Đình Th – Sinh năm 1980

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Ng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

3. Anh Lê Đình Th – Sinh năm 1982

Địa chỉ: Tiểu khu 2, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/9/2019, tổ công tác Công an huyện Tĩnh Gia (nay là Công an thị xã Nghi Sơn) tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Minh Lâm, xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện, bắt quả tang Vũ Tiến Ch có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Lê Văn T tại nhà của Ch. Lợi dụng sơ hở của tổ công tác, Ch đã cầm theo 100.000 đồng tiền bán ma tuý bỏ chạy. Quá trình bắt quả tang, lực lượng Công an đã thu giữ trên tay của T 01 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (T khai là ma túy, T vừa mua của Ch với giá 100.000 đồng) và 01 bơm kim tiêm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và niêm phong tang vật để phục vụ công tác điều tra.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Tiến Ch, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- Phía sau bức tranh số 02 từ trái qua phải treo trên tường phía tây phòng khách nhà Vũ Tiến Ch 01 gói nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có 06 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn.

- Phía sau bức tranh số 04 từ trái qua phải treo trên tường phía tây phòng khách nhà Vũ Tiến Ch 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 45 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn.

- Tại phòng khách 01 điện thoại di động loại Forme màu đen, lắp sim số 0972596109.

Ngày 21/9/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Vũ Tiến Ch nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 2162/PC09 ngày 24/9/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (trong gói giấy thu giữ của T khi bắt quả tang) được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,259g, loại: Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (trong 06 gói giấy bỏ trong gói nilon thu giữ phía sau bức tranh số 2 khi khám xét nơi ở của Ch) được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,245g, loại: Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (trong 45 gói giấy bỏ trong gói nilon thu giữ phía sau bức tranh số 4 khi khám xét nơi ở của Ch) được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 2,057g, loại: Heroine.

Kết quả giám định dấu vết đường vân tại Kết luận giám định số 2423/PC09 ngày 31/10/2019 của Phòng Kỹ thuât hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, xác định:

- Trên 01 (một) tờ giấy (dạng giấy báo) trong phong bì ký hiệu M2 gửi đến giám định phát hiện được 01 (một) dấu vết đường vân so với dấu vân tay in ở ô “Cái phải” của “Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân” có nội dung: Số thẻ CCCD 038087004970, đứng tên Vũ Tiến Ch là của cùng một người.

- Trên 01 (một) tờ giấy (dạng giấy báo) trong phong bì ký hiệu M3 gửi đến giám định phát hiện được 01 (một) dấu vết đường vân so với dấu vân tay in ở ô “Cái trái” của “Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân” có nội dung: Số thẻ CCCD 038087004970, đứng tên Vũ Tiến Ch là của cùng một người.

Trên cơ sở kết quả điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, khởi tố bị can đối với Vũ tiến Ch về tội mua bán trái phép chất ma túy để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định. Quá trình điều tra do Ch bỏ trốn nên ngày 04/11/2019, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Ch; kết thúc điều tra, đề nghị truy tố đối với Lê Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Ngày 15/01/2020, Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn) đã xét xử Lê Văn T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đối với Vũ Tiến Ch, Cơ quan điều đã ra Quyết định tách vụ án để điều tra xử lý sau; hết thời hạn điều tra do chưa bắt được bị can nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can. Đến ngày 11/01/2023, Ch bị bắt theo Quyết định truy nã, vụ án được phục hồi điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Ch đã thành khẩn khai báo hành vi bán trái phép 01 gói ma túy cho Lê Văn T với giá 100.000 đồng vào ngày 20/9/2019 và tàng trữ trái phép ma túy tại nhà với mục đích để bán như đã nêu trên.

Về nguồn gốc ma tuý, Vũ Tiến Ch khai nhận trước đó vào ngày 18/9/2019, Ch đã mua của một người đàn ông tên Khanh ở khu vực khối Tân Sơn, phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An với giá 3.600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông tên Khanh nêu trên nên không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

* Về vật chứng của vụ án:

- Quá trình bắt quả tang Lê Văn T đã thu giữ:

+ 01 gói giấy nhiều màu sắc, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M1.

+ 01 bơm kim tiêm.

- Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Tiến Ch đã thu giữ:

+ 01 gói nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có 06 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2.

+ 01 gói nilon, bên trong có 45 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, lắp sim số 0972596109.

- Quá trình bắt truy nã Vũ Tiến Ch đã thu giữ:

+ 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0865147790, số seri 1: 356971098476387, số seri 2: 356971099376388.

* Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật, gồm:

+ Toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì niêm phong ký hiệu M1 và 0,229g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 (kết quả giám định là Heroine) và 01 bơm kim tiêm.

+ 0,205g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2 (kết quả giám định là Heroine); 1,923g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (kết quả giám định là Heroine) của phong bì ký hiệu M3 là các mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu T2 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Nguyễn Hiếu Trung và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

+ 01 phong bì màu trắng ký hiệu M2 bên trong có 01 gói nilong màu trắng viền màu đỏ; 06 gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau và 01 phong bì màu trắng ký hiệu M3, bên trong có 01 gói nilong màu trắng; 45 gói giấy có đặc điểm khác nhau, toàn bộ mẫu vật sau giám định được đóng gói cho vào một phong bì và dán kín, niêm phong bởi chữ ký gi rõ họ tên Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Trọng Trọng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

+ 01 điện thoại di động Forme đã qua sử dụng, lắp sim số 0972596109 được dán kín, niêm phong trong một phong bì có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Trọng, Hà Thị Hường, Lê Đức Hùng, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn.

+ 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0865147790, số seri 1: 356971098476387, số seri 2: 356971099376388 được dán kín, niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Trọng, Lê Văn Linh, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn.

- Xử lý vật chứng: Toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì niêm phong ký hiệu M1 và 0,229g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 (kết quả giám định là Heroine) và 01 bơm kim tiêm đã được xử lý tại Bản án số 11/2020/HS-ST ngày 15/01/2020 của TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn).

Bản cáo trạng số 41/CT-VKSNS ngày 20/03/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Vũ Tiến Ch về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Vũ Tiến Ch.

Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo cụ thể như sau:

- Vũ Tiến Ch 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/01/2023).

Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy còn lại sau giám định và bao gói mở niêm phong hiện đang quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự.

- Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại di động vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Truy thu số tiền 100.000đ mà bị cáo đã bán ma túy cho Lê Văn T.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tài liệu chứng chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố Vũ Tiến Ch về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng.

Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đe dọa sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy là hiểm họa của cộng đồng và còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xét xử về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Nhưng sau khi chấp hành án trở về địa phương chỉ một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, cố tình phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 04/11/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn) đã ra quyết định truy nã số 11/CSĐT đối với bị cáo, đến ngày 11/01/2023 mới bắt được bị cáo tại tổ 1, khu phố 12, phường Minh Hưng, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nên nay mới đưa bị cáo ra xét xử. Do đó nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về xử lý vật chứng:

* Truy thu của bị cáo số tiền 100.000đ vì đây là số bị cáo bán ma túy cho Lê Văn T.

* Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy còn lại sau giám định và bao gói mở niêm phong hiện đang quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự gồm:

- 0,205g (không phẩy hai không năm gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2; 1,923g (một phẩy chín hai ba gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M3 là các mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, ký hiệu T2, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Nguyễn Hiếu Trung và các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa.

- 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu M2, bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng viền màu đỏ; 06 (sáu) gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau và 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu M3, bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng; 45 (bốn mươi năm) gói giây có đặc điểm khác nhau, toàn bộ mẫu vật sau giám định được đóng gói cho vào một phong bì và dán kín, niêm phong bởi chữ ký đứng tên: Nguyễn Văn Thanh; Nguyễn Trọng Trọng và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”.

* Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại di động vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cụ thể:

- 01 (một) điện thoại di động Forme đã qua sử dụng, số imei 1: 359071081239954, số imei 2: 359071081239962, lắp sim số: 0972596109 được dán kín, niêm phong trong một phong bì có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Trong, Hà Thị Hường, Lê Đức Hùng, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia 106 màu đen, lắp sim số 0865147790, số seri 1: 356971098476387, số seri 2: 356971099376388. Được dán kín, niêm phong trong một phong bì có chữ ký chữ viết của Nguyễn Trọng Trọng, Lê Văn Linh, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Vũ Tiến Ch.

Tuyên bố: Vũ Tiến Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Vũ Tiến Ch 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/01/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Truy thu của bị cáo số tiền 100.000đ là số bị cáo bán ma túy cho Lê Văn T.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,205g (không phẩy hai không năm gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2; 1,923g (một phẩy chín hai ba gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M3 là các mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, ký hiệu T2, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Nguyễn Hiếu Trung và các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa.

+ 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu M2, bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng viền màu đỏ; 06 (sáu) gói giấy có nhiều màu sắc khác nhau và 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu M3, bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng; 45 (bốn mươi năm) gói giây có đặc điểm khác nhau, toàn bộ mẫu vật sau giám định được đóng gói cho vào một phong bì và dán kín, niêm phong bởi chữ ký đứng tên: Nguyễn Văn Thanh; Nguyễn Trọng Trọng và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”.

- Trả lại cho Vũ Tiến Ch 02 điện thoại di động, cụ thể:

- 01 (một) điện thoại di động Forme đã qua sử dụng, số imei 1: 359071081239954, số imei 2: 359071081239962, lắp sim số: 0972596109 được dán kín, niêm phong trong một phong bì có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Trong, Hà Thị Hường, Lê Đức Hùng, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia 106 màu đen, lắp sim số 0865147790, số seri 1: 356971098476387, số seri 2: 356971099376388. Được dán kín, niêm phong trong một phong bì có chữ ký chữ viết của Nguyễn Trọng Trọng, Lê Văn Linh, Vũ Tiến Ch và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn.

(Theo phiếu nhập kho số NK2023/30 ngày 24 tháng 03 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Vũ Tiến Ch phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ