- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ và N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HS-ST Ngày 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và ông Nguyễn Trường Ca
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Hải Đ, sinh năm 1993 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: Thôn V, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Trần Thị C; tiền án, tiền sự: Không;
Hiện bị cáo tại ngoại; Có mặt.
2. Vũ Thị N, sinh năm 1969 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: KDC số 8 P, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Vũ Văn Á, đã chết và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Vũ Văn T1 (Đã chết|); có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không;
Hiện bị cáo tại ngoại; Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Vũ Văn Đ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó có tìm hiểu và biết việc bán số lô, số đề trái quy định của nhà nước có lãi suất cao nên Trần Hải Đ nảy sinh ý định bán số lô, số đề ngoài nhà nước. Khi gặp Vũ Thị N, Đ bảo với N khi nào có nhu cầu mua số lô số đề ngoài nhà nước thì nhắn tin cho Đ. N đồng ý rồi Đ và N trao đổi số điện thoại với nhau.
Hồi 17 giờ 12 phút ngày 07/01/2023, Trần Hải Đ đang ngồi uống nước một mình tại bàn uống nước ở sân nhà anh Vũ Văn K, sinh năm 1973, trú tại khu dân cư số 8, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì Vũ Thị N sử dụng số điện thoại 0562708248 lắp trong điện thoại nhãn hiệu Nokia nhắn đến số 0357915801 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng của Đ để mua các số lô, số đề với nội dung: “De 52.40.540.50 10 moi con 100k lo 71.95 moi con 100diem x2 71.95 la 1trieu” tức là N mua các số đề ngoài Nhà nước: 52,40,50,10 mỗi số đề giá 100.000 đồng; số đề ba càng 540 giá 100.000 đồng; số lô 71,95 mỗi số mua 100 điểm tương ứng với mỗi số lô 2.000.000 đồng; số lô xiên hai 71, 95 với giá 1.000.000 đồng. Đ đồng ý bán cho N các số lô, số đề trên và nhắn lại: “ok cô”. Tổng số tiền mà N mua các số lô, lô xiên, số đề và ba càng ngoài Nhà nước của Đ là 5.500.000 đồng.
Về hình thức chơi: Việc thắng thua sẽ dựa vào kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định, đối với số đề thì so với hai số cuối của giải đặc biệt, số ba càng so với ba số cuối của giải đặc biệt, số lô so với hai số cuối của tất cả các giải. Nếu số đề người chơi đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì thắng, không trùng thì thua. Với số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong tất cả các giải thưởng thì thắng, không trùng thì thua. Cách tính thắng, thua: Quy định 01 điểm lô tương ứng 20.000 đồng nếu thắng được 70.000 đồng; lô xiên hai người chơi mua 100.000 đồng khi thắng được 1.400.000 đồng; Số đề tỷ lệ thắng là: 1 được 80, người chơi mua 1.000 đồng khi thắng được 80.000 đồng; Số ba càng người chơi mua 1.000 đồng khi thắng được 400.000 đồng. Các số lô, số đề người mua không trúng tức là người chơi thua bạc, số tiền thua là số tiền người chơi đã bỏ ra mua các số lô, số đề ban đầu. Việc thắng thua của người mua số lô, số đề sẽ do Đ tự thu và trả thưởng. Người chơi sẽ thanh toán tiền thắng thua với Đ sau khi kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố Chí Linh phối hợp với Công an phường P kiểm tra phát hiện hành vi bán số lô số đề ngoài nhà nước của Đ, Đ và N chưa thanh toán tiền thắng thua cho nhau. Đ tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, bên trong lắp sim điện thoại số 0357915801. Vũ Thị N tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen và số tiền sử dụng để đánh bạc: 5.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-CL ngày 28/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Hải Đ từ 08 -11 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 - 22 tháng, tính từ ngày tuyên án 28/4/2023.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị N từ 07 – 10 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 - 20 tháng, tính từ ngày tuyên án 28/4/2023.
Giao các bị cáo Đ, N cho UBND xã, phường nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.500.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, bên trong lắp sim điện thoại số 0357915801; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản làm việc, lời khai người làm chứng, phù hợp với các tang vật chứng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 12 phút ngày 07/01/2023 tại bàn uống nước ở sân nhà anh Vũ Văn K, sinh năm 1973, trú tại khu dân cư số 8, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Trần Hải Đ có hành vi bán các số đề 52,40,50,10 mỗi số đề giá 100.000 đồng; số đề ba càng 540 giá 100.000 đồng; số lô 71 và 95, mỗi số lô giá 2.000.000 đồng; số lô xiên hai 71, 95 với giá 1.000.000 đồng cho Vũ Thị N. Tổng số tiền Đ đánh bạc với N là 5.500.000 đồng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi ghi số lô, số đề ngoài Nhà nước được thua bằng tiền trên kết quả mở thưởng sổ số miền Bắc là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số tiền đánh bạc là 5.500.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ là người khởi xướng và trực tiếp bán số lô, số đề nên giữ vai trò chính; bị cáo N là người mua các số lô, số đề nên là người thực hành. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo Đ, N phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đã ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần về hình phạt cho các bị cáo, không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo Đ, N không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, bị cáo Đ bị bệnh viêm cột sống dính khớp, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.500.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, bên trong lắp sim điện thoại số 0357915801; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vấn đề khác:
Đối với sim số điện thoại 0562708248 Vũ Thị N đã cho vào bồn cầu xả nước nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được.
Đối với anh Vũ Văn K không biết việc Đ thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Hải Đ 08 (Tám) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 28/4/2023.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị N 07 (Bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 28/4/2023.
Giao bị cáo Đ cho UBND xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; giao bị cáo N cho UBND phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.500.000đ được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 23/KL-KTHS và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng, mặt kính cường lực bị rạn nứt, có số IMEI 352682659333750, bên trong lắp sim điện thoại số 0357915801 có số seri 8984048000029441784; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI 355839099780043.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/3/2023 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Hải Đ, Vũ Thị N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh (01); - VKSND tỉnh Hải Dương (01); - Chi cục THADS TP. Chí Linh (01); - Công an thành phố Chí Linh (01); - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Chí Linh (01); - CQCSĐT-Công an thành phố Chí Linh (01); - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01); - Bị cáo (01); - Lưu hồ sơ (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |