vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo P Biểu Thức phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Xử phạt bị cáo P Biểu Thức 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27 tháng 7 năm 2023). Giao bị cáo P Biểu Thức cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phó Biểu Thức phạm tội Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự - phạm tội làm giả con dấu, tài…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo P Biểu Thức phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 27-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng và bà Lê Thị Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phó Biểu Thức, tên gọi khác: C, sinh ngày 03/5/1990 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Sửa xe ô tô; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phó Khải N và bà Lâm Thị L; bị cáo có vợ là Đào Yến N1 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/3/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phó Khải Nghĩa, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

2. Phó Biểu Đăng, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2019, do kinh doanh thua lỗ nên Phó Biểu Thức nảy sinh ý định lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của em ruột là Phó Biểu Đăng đem đi cầm cố. Để tránh bị phát hiện P Biểu Thức đã dùng tài khoản facebook của T mang tên “Chick” liên hệ và đặt một tài khoản (đến nay T không nhớ tên tài khoản) trên mạng xã hội Facebook làm giả một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phó Biểu Đăng với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, T đã chụp hình bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 522927 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp cho Phó Biểu Đăng vào ngày 25/6/2019 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 39, diện tích 754,1m2 do ông Phó K Nghĩa là cha đẻ của T đang cất giữ rồi gửi hình ảnh cho người nhận làm giả giấy chứng nhận mà T đã liên hệ trước đó. Khoảng 05 ngày sau, T nhận được một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phó Biểu Đăng có nội dung thông tin giống như nội dung bản gốc. Sau khi nhận, T cất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả vào tủ rồi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật mang tên Phó Biểu Đăng rồi liên hệ với chị Nguyễn Thị Bích H, trú tại Tổ C, phường A, thị xã A để cầm cố nhưng do không mang tên chính chủ trên giấy tờ nên không cầm cố được. Vì vậy, T cất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật trong tủ ở phòng ngủ của mình. Ngày 21/9/2022 ông Phó Khải N được Phó Biểu Đăng ủy quyền làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 522927. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã A đã phối hợp với Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh G

- Chi nhánh thị xã A kiểm tra hồ sơ lưu tại đơn vị thì thấy rằng số thửa đất ghi trong giấy chứng nhận không trùng khớp với số thửa đất trong hồ sơ lưu. Mặt khác, sau khi làm việc với ông Phó Khải N để giải quyết hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất thì ông N trình bày Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông đã nộp là do P Biểu Thức con trai ông đặt mua trên mạng, đồng thời ông N có giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 522927 do Sở T cấp ngày 25/6/2019 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 39, diện tích 754,1m2. Vì vậy, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã A đã báo cáo Ủy ban nhân dân thị xã A để yêu cầu Công an thị xã A điều tra làm rõ.

Ngày 10/01/2023, Công an thị xã A nhận được Công văn số 04/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân thị xã A về việc phát hiện Phó Biểu Đăng đang lưu hành 02 phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 522927 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 25/6/2019 có nhiều nội dung không trùng khớp với hồ sơ lưu trữ và có dấu hiệu làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân thị xã A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trưng cầu giám định kỹ thuật hình sự. Tại Kết luận giám định số: 267/KL-KTHS ngày 16/3/2023 Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CM 522927 mẫu cần giám định (ký hiệu A) là giả.

Tại Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo P Biểu Thức về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo P Biểu Thức phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”; đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ: 06 đến 09 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời khai của ông Phó K Nghĩa là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thể hiện: Do Phó Biểu Đăng làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nên đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 522927 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 25/6/2019 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 39, diện tích 754,1m2 cho ông cất giữ. Ngày 21/9/2022, trên cơ sở ủy quyền của Phó B, ông đã nộp hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất. Sau đó, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã A thông báo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông nộp không khớp với hồ sơ lưu trữ. Sau khi được thông báo, do nghi ngờ P Biểu Thức làm giả giấy chứng nhận rồi đánh tráo, nên ông đã hỏi Phó Biểu Thức và T đã giao lại cho ông Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 522927 thật. Ông hoàn toàn không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông đã nộp khi làm hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất là giả.

Tại phiên tòa, bị cáo P Biểu Thức thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã đủ cơ sở xác định: Phó Biểu Thức là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Thông qua mạng xã hội Facebook, vào năm 2019 bị cáo P Biểu Thức đã đặt mua 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả có thông tin được chụp từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 522927 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 25/6/2019 mang tên Phó Biểu Đăng do Phó Biểu Thức cung cấp khi đặt mua. Sau khi có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, bị cáo Phó Biểu T1 đã đánh tráo để lấy giấy chứng nhận thật do ông Phó Khải N quản lý để liên hệ cầm cố. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không mang tên chính chủ nên T1 không cầm cố được. Ngày 21/9/2022 ông Phó K Nghĩa là cha đẻ của Phó Biểu Thức cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả đi làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất thì bị phát hiện. Do đó, đã đủ cơ sở tuyên bố Phó Biểu Thức phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, có nghề nghiệp và nơi cư trú rõ ràng, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Do bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý xử lý vật chứng: Xét vật chứng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả được lưu vào hồ sơ vụ án nên không xử lý. Các tài liệu, vật chứng còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

1. Tuyên bố bị cáo P Biểu Thức phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

2. Xử phạt bị cáo P Biểu Thức 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27 tháng 7 năm 2023).

Giao bị cáo P Biểu Thức cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo P Biểu Thức thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo P Biểu Thức phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2023) bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ