vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phan Phúc H 15 (mười lăm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16 tháng 11 năm 2022. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Phúc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 24-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Kim Loan

Ông Thái Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Phúc H, sinh ngày 24/12/1999 tại AG; Nơi thường trú: Khóm 4, phường M, thành phố X, tỉnh AG; Nơi cư trú: khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Huỳnh Minh H1 (đã chết) và bà Phan Thị C (đã chết);Vợ Vương Hoàng Thị Phương V, sinh năm 2000 (không có đăng ký kết hôn; Con 01 người: Vương Gia B, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2022.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phan Phúc H: Luật sư Nguyễn D - Văn phòng luật sư Ngọc D1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ: số 51, đường Nguyễn Văn K, phường Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người chứng kiến:

1. Chị Vƣơng Hoàng Thị Phƣơng V, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

2. Anh Nguyễn Tr, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, Công an thành phố P

tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 103 Khu A, căn hộ cho thuê Phúc Ng thuộc tổ 2, khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Phan Phúc H thuê ở, phát hiện H cất giấu ma túy trong tủ nhựa, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ, tổng cộng 102 viên nén màu nâu, hình mặt chim cú mèo, 05 phần viên nén không rõ hình dạng và 12 bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng. H khai nhận đây là chất ma túy, mua về cất giấu để bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố P.

Trong quá trình điều tra, Phan Phúc H khai nhận: Vào đầu tháng 11/2022, H có gọi điện thoại cho người có tên Duy (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy gồm, ketamine và kẹo (thuốc lắc) với số tiền là 30.000.000 đồng, Duy đồng ý. Hai bên hẹn giao nhận ma túy ở khu vực 67 ha thuộc khu phố 10, phường Đ, thành phố P. Sau khi nhận ma túy, H mang về cất giấu trong tủ nhựa và trong túi quần để trong ngăn tủ nhựa nơi H thuê ở, nhằm mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố P. Với cách thức như sau: H có nói với người tên Lê (không rõ nhân thân) khi nào có người hỏi mua ma túy thì giới thiệu giúp H. Sau đó, có 03 người phụ nữ (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) gọi điện thoại cho H hỏi mua ma túy, thỏa thuận giá cả và địa điểm giao nhận ma túy tại sân bay cũ thuộc khu phố 10, phường Đ, thành phố P để trực tiếp giao ma túy và nhận tiền vào các ngày 10, 11, 12/11/2022. Tổng cộng, H bán 03 lần, 03 bịch, giá mỗi bịch 1.500.000 đồng. Đến ngày 16/11/2022 thì H bị bắt quả tang cùng vật chứng và bị khởi tố tạm giam cho đến nay.

- Tình tiết tăng nặng: Phan Phúc H phạm tội 02 lần trở lên.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và truy tố bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự khai ra những lần phạm tội trước đó (về hành vi bán ma túy)

+ Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phan Phúc H:

- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 09cm x 15,5cm, bên trong có chứa 72 (bảy mươi hai) viên nén màu nâu, hình cú mèo.

- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu đỏ có kích thước 09cm x 15,5cm; 08 (tám) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước đều 03cm x 04cm; 02 (hai) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu đỏ, có kích thước 03cm x 3,5cm. Bên trong 11 (mười một) bịch nylon trên đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất.

- 01 hộp nhựa màu đỏ, nắp màu xanh dương cao 07cm. Bên trong có chứa 28 (hai mươi tám) viên nén màu nâu, hình cú mèo; 01 (một) viên nén màu nâu, không rõ hình dạng và 01 (một) viên nén hình chữ nhật màu đỏ.

- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu cam, kích thước 05cm x7,lcm, bên trong bịch nylon có chứa 03 (ba) viên nén màu nâu, hình cú mèo và 01 (một) phần viên nén màu nâu không rõ hình dạng.

- 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu cam, kích thước 04cm x 06cm, bên trong có chứa 03 (ba) phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng; 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 03cm X 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu trắng, số IMEI1: 350750729621181; IMEI2: 350750729221883, đã qua sử dụng. 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng;

- 01 (một) nhẫn nam bằng kim loại màu vàng;

- 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng;

- 01 (một) đồng hồ bằng kim loại màu vàng;

- Tiền Việt Nam đồng, là 53.600.000 đồng, gồm các mệnh giá:

+ Tờ năm trăm nghìn đồng: 80 tờ = 40.000.000 đồng;

+ Tờ hai trăm nghìn đồng: 59 tờ = 11.800.000 đồng;

+ Tờ một trăm nghìn đồng: 18 tờ = 1.800.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 1120/KL-KTHS, ngày 22/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

- 75 (bảy mươi lăm) viên nén màu nâu, hình mặt chim cú mèo và 04 (bốn) phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng chứa trong 03 (ba) bịch nylon, 28 (hai mươi tám) viên nén màu nâu, hình mặt chim cú mèo và 01 (một) phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng chứa trong một hộp nhựa, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu giám định là 52,2079 gam;

- Các hạt tinh thể rắn màu trắng, chứa trong 12 (mười hai) bịch nylon được, niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu giám định là 66,5404 gam;

- 01 (một) viên nén màu đỏ hình chữ nhật chứa trong 01 (một) hộp nhựa, được niêm phong gửi giám định không phải là chất ma túy. Khối lượng mẫu giám định là 0,4787 gam;

- MDMA là chất ma tủy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 55/2022/NĐ - CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamỉne là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 55/2022/NĐ - CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ” (Bút lục số 46, 47).

- Ngày 23/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, trả lại tài sản cho bị can Phan Phúc H, gồm: 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) đồng hồ bằng kim loại màu vàng, không liên quan đến vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSKG-P1 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phan Phúc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa tranh luận và luận tội: Bị cáo Phan Phúc H bị kiểm tra hành chính thu giữ ma túy đang cất tại phòng trọ theo Kết luận giám định là ma túy loại MDMA khối lượng 52,2079 gam và Ketamine khối lượng 66,5404 gam, bị cáo khai mua về nhằm mục đích bán lại kiếm lời và sử dụng, ngoài ra bị cáo khai nhận trước đó đã 03 lần bán ma túy cho các con nghiện không rõ họ tên địa chỉ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, khối lượng các chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo mức án từ 15 năm đến 17 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng trong vụ án là các chất ma túy bị thu giữ và các tang vật khác.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 bị cáo Phan Phúc H dùng vào việc phạm tội và buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Đồng ý quan điểm truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh sống khó khăn, cha mẹ mất sớm, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú những lần phạm tội trước đó. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt bị truy tố.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Phúc H khai nhận, do nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy của một người tên Duy (không rõ lai lịch) với số tiền 30.000.000 đồng gồm ketamine và kẹo (thuốc lắc) đem về phòng trọ của minh ở P cất giữ sử dụng và bán lại kiếm lời. Trước khi bị bắt bị cáo đã bán ma túy được 03 lần cho 03 người (không rõ nhân thân) với tổng số tiền 4.500.000 đồng. Ngày 16/11/2022, bị cáo bị bắt thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại đang cất giấu.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác. Kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận, tang vật thu giữ của bị cáo là ma túy loại MDMA, có khối lượng 52,2079 gam và Ketamine, có khối lượng 66,5404 gam, còn lại số ma tuý mà các bị cáo đã bán không xác định được khối lượng. Với hành vi mua ma tuý về cất giữ nhằm mục đích để sử dụng và bán như trên của bị cáo Phan Phúc H là đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về các chất ma túy theo quy định. Bản thân bị cáo nghiện ma túy từ đó mua ma túy về sử dụng và bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Quá trình không có thỏa thuận, bàn bạc, không có sự giúp sức của ai, khối lượng ma túy cất giấu bị cáo không có ghi ra phần nào để bán, phần nào để sử dụng mà khi có người mua sẽ bán nên đây là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của tệ nạn ma túy đối với xã hội, vì vậy với ý thức xem thường pháp luật các bị cáo phải bị truy tố và xét xử theo quy định. Sau khi đánh giá toàn diện nội dung, diễn biến của vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần quyết định cho bị cáo một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú về những lần phạm tội trước đó, tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh sống khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, HĐXX chấp nhận.

Về quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp. Về mức án đề nghị áp dụng cho bị cáo là chưa tương xứng, HĐXX không chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy các gói đã được niêm phong sau giám định và các tang vật khác không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội và buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Những vấn đề khác của vụ án: Đối tượng Duy bán ma túy cho bị cáo do không biết tên thật địa chỉ nên chưa điều tra ra được, những người mua ma túy của bị cáo không rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục tìm kiếm và xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phan Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phan Phúc H 15 (mười lăm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16 tháng 11 năm 2022.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên ngoài ghi: Niêm phong mẫu vật, vụ số: 1120/2022, ngày 04/11/2022; Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy; người chứng kiến: Đoàn Chí Toàn;

+ 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang số 40/KL-KTHS có tên và chữ ký của Nguyễn Hoàng Ph và có dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng của Phan Phúc H, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) hộp nhựa màu xanh có dây kéo, đã qua sử dụng.

- Buộc bị cáo nộp số tiền thu lợi bất chính 4.500.000đ. Được khấu trừ trong số tiền bị thu giữ là 53.600.000đ (theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 0202 ngày 08/02/2023) tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Kiên Giang. Số tiền còn lại là 49.100.000đ trả lại cho bị cáo Phan Phúc H.

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 12/QĐ-VKSKG-P1 ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000đ.

4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2023)./.

Cỡ chữ