vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Chí L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYÊN T L
TỈNH H N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 4 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYÊN T L - TỈNH H N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Văn Ninh và ông Quách Xuân Luyện.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L, tỉnh H N tham gia phiên toà: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

+ Trần Chí L - sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn Tr Th, xã T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Việt S (đã chết) và bà Lê Thị T; có vợ là Bá Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/02/2023 đến ngày 26/02/2023 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H N, có mặt tại phiên tòa.

- Ngườ i chứ ng kiến: ông Lại Trung Nghĩa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Chí L là người nghiện ma túy loại Heroine, hình thức sử dụng là chích trực tiếp vào cơ thể. Khoảng 07 giờ ngày 20/02/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên L đi bộ từ nhà đến thôn D X, xã T H, huyện T L, tỉnh H N để tìm mua ma túy. Khi L đi đến khu vực thôn D X thì gặp một người thanh niên tên H (là người L mới quen được 02 ngày, không rõ lai lịch, khoảng ngoài 30 tuổi, cao khoảng 1m65, da ngăm đen, đi xe mô tô kiểu dáng Dream không biển kiểm soát) đang đứng ở ven đường. Gặp nhau, L hỏi H : “Có chỗ nào lấy đồ không?” - ý của L hỏi H có chỗ nào mua ma túy không, thì H trả lời: “Có, đưa tiền đây”. Biết H có chỗ mua ma túy, nên L lấy trong người ra số tiền 1.000.000 đồng đưa cho H . H cầm tiền L đưa, rồi bảo L đứng đợi, còn H điều khiển xe mô tô đi đâu L không biết. Sau đó, L đi vào một hiệu thuốc ven đường, mua 01 xi lanh và 01 lọ nước cất mục đích để sử dụng ma túy, rồi đi ra ngoài đường tiếp tục đứng đợi. Khoảng 05 phút sau, người tên H quay lại đưa cho L 02 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng. L mở ra kiểm tra, thấy bên trong có ma túy, nên gói lại và cầm ở tay phải, rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy, còn người tên H đi đâu L không biết. Đến khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ trên đường ĐT 495 thuộc thôn D X, xã T H, huyện T L, tỉnh H N để ra khu vực nghĩa trang gần đó chuẩn bị sử dụng ma túy, thì bị lực lượng Công an xã T H, huyện T L, tỉnh H N phát hiện nghi vấn, yêu cầu kiểm tra, bắt quả tang.

* Vật chứng bị thu giữ: thu giữ 02 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy Heroine) tại lòng bàn tay phải của Trần Chí L, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 xi lanh, 01 lọ nước cất loại 10ml tại túi áo khoác ngoài bên phải của TrầnChí L đang mặc.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Chí L tại thôn Trung Thành, xã T T, huyện T L, tỉnh H N, song Cơ quan CSĐT Công an huyên T L không thu giữ đồ vật, tài sản gì có liên quan.

Ngày 20/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyên T L ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N giám định chất nghi là ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản Kết luận giám định số 101/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,313g (không phẩy ba trăm mười ba gam) loại: Heroine (Heroin)”.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSTL ngày 16/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyên T L đã truy tố Trần Chí L về tội “Tàng trữ trái phép chất túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên T L giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Chí L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - xử phạt cáo Trần Chí L từ 21 đến 24 tháng tù. Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám đi ̣nh và 01 xi lanh, 01 lọ nước cất.

- Bị cáo Trần Chí L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tu ̣ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tô ̣i danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Trần Chí L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của Trần Chí L phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: khoảng 07 giờ 45 phút ngày 20/02/2023, tại đoạn đường ĐT 495 thuộc thôn D X, xã T H, huyện T L, tỉnh H N, Trần Chí L đang tàng trữ trái phép 0,313 gam ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay phải, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị lực lượng Công an xã T H, huyện T L, tỉnh H N bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tàng trữ Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của TrầnChí L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyên T L truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đa “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”,̃ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hinh pha ̣̀

t:

- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, sử dụng; 01 xi lanh, 01 lọ nước cất không có giá trị sử dụng; nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ và đối tượng bán ma tuý cho Trần Chí L: Cơ quan CSĐT Công an huyên T L đã tập trung đấu tranh, song ngoài lời khai của L thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyên T L không có căn cứ xác định nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và đối tượng bán ma túy cho L.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hinh sự̀

: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Trần Chí L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Trần Chí L 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (20/02/2023).

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám đi ̣nh trong phong bi niêm phong sồ

́ 101/KL-KTHS và 01 xi lanh, 01 lọ nước cất (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyên T L với Chi cục Thi hành án dân sự huyên T L).

3. Án phí: bị cáo Trần Chí L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ