vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 09/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 09-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Ngọc Thời

+ Bà Trương Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thịnh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quá và ông Nguyễn Trung Trực – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1970, tại Tứ Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Khóm X, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị;

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn C1, sinh năm 1943 và bà Trần Thị T, sinh năm 1946;

Vợ: Hồ Thị V, sinh năm 1974;

Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án: Có 01 tiền án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” (theo bản án hình sự số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng).

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nới cư trú từ ngày 17/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Đỗ L, sinh năm 1940; nơi cư trú: Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947; vắng mặt.

2. Anh Đỗ C2, sinh năm 1976; có mặt.

3. Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1978; vắng mặt.

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Chị Đỗ Thị B1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn D, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

5. Chị Đỗ Thị L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: 128 P, phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Anh Nguyễn Tường D, sinh năm 1990; nơi cư trú: 217/76 B, phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Bùi Tấn Đ, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Công T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

3. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở hiện nay: Phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Tấn S, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/01/2023, Nguyễn Ngọc C điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01 (xe do Nguyễn Tường D, sinh năm 1990; địa chỉ: 217/76 B, phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu) di chuyển theo hướng từ Bắc vào Nam trên làn đường dành cho xe cơ giới phía Đông, thuộc phần đường phía Tây quốc lộ 1A. Khi đến đoạn đường Km1107+400, thuộc Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, mặc dù tại đoàn đường này có các báo hiệu đường bộ để giảm tốc độ như: Cấm đi ngược chiều và vị trí người đi bộ sang ngang, nhưng do Nguyễn Ngọc C chủ quan, không giảm tốc độ để phòng ngừa tai nạn (trong khi đã phát hiện ông Đỗ L đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741 di chuyển cùng chiều phía trước trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ phía Tây và đang dịch chuyển dần sang phần đường phía Đông, cách đầu xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 khoảng 50m) dẫn đến góc trước bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 va chạm với khu vực ốp nhựa bên trái thân xe, đầu bên trái tay nâng, phuộc nhún sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741 do ông L điều khiển, gây tai nạn. Hậu quả làm ông Đỗ L chết (điểm va chạm đầu tiên của 02 xe nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới phía Đông, phần đường phía Tây quốc lộ 1A, cách vạch sơn trắng kẻ liền phía Tây là 05m). Sau khi va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 tiếp tục chạy về phía Nam khoảng 168m thì dừng lại.

* Tại Kết luận giám định số 64/KL-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận nguyên nhân chết của ông Đỗ L: Đa thương tích, chấn thương sọ não, rạn nứt hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường chung:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng có trục Bắc – Nam, hai bên là khu dân cư, có dải phân cách cứng ở giữa chia thành hai phần đường phía Đông và Tây; điểm mở dải phân cách rộng 16,2m.

Làn đường xe cơ giới phía Tây rộng 07m, ở giữa có vạch sơn trắng kẻ đứt quãng, hai bên có vạch sơn trắng kẻ liền kề. Làn đường xe thô sơ và người đi bộ ở phần đường phía Tây rộng 2,2m; ở mép đường phía Đông giao nhau với đường bê tông.

- Hiện trường cụ thể:

Từ trục Km1107+400 ở lề đường phía Tây về hướng Đông Bắc 18,3m, cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Tây về hướng Đông 05m và cách vạch sơn kẻ ngang dành cho người đi bộ qua đường ở phía Nam về hướng Bắc 10m là đầu phía Bắc của vết xước mặt đường đứt quảng dài về hướng Nam đến gác chân trước (bên phải) của xe mô tô 51P8-6741, vết xước có KT (168x1)m, sâu nhất 0,5m có hướng trượt dài từ Bắc vào Nam (ký hiệu vết 1). Từ đầu phía Bắc vết (1) về hướng Nam 4,2m và cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Tây về hướng Đông 3,35m là vùng nhựa vỡ rãi rát trong diện KT (7,6x3,6)m (ký hiệu vết 2).

Từ đầu phía Bắc vết (1) về hướng Nam 14,4m và cách vạch sơn trắng kẻ liền kề phía Tây về hướng Đông 04m là đầu phía Bắc của chà xát, đứt quãng, bám dính trên mặt đường màu nâu đỏ, có KT (37,5x1)m (ký hiệu vết số 3). Đầu phía Nam vết (3) tạo thành vũng và nằm trên vạch sơn trắng kẻ liền phía Tây (từ đầu phía Bắc vết 1 đến đầu phía Nam vết 3 cách nhau 52,4m).

Từ đầu phía Nam vết (3) về hướng Đông Nam 107m và cách vạch sơn trắng phía Tây về hướng Đông 4,4m là trục bánh sau bên phải của xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01, xe ô tô đang ở trạng thái dừng đỗ, đầu xe quay về hướng Nam, trục bánh trước bên phải của xe ô tô cách vạch sơn trắng phía Tây về hướng Đông 4,4m.

Cách trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 về hướng Tây Nam 1,8m và cách vạch sơn trắng phía Tây về hướng Đông 4,2m là trục bánh trước của xe mô tô 51P8-6741; xe mô tô bị ngã qua bên phải, đầu xe quay về hướng Đông, ½ thân trước của xe mô tô nằm dưới gầm đầu xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01, bánh trước của xe mô tô cách vạch sơn trắng phía Tây về hướng Đông 5,5m.

- Mở rộng hiện trường về phía Bắc:

Từ đầu phía Bắc vết (1) về hướng Đông Bắc 3,2m là trụ biển báo cấm đi ngược chiều ở đầu dải phân cách, về hướng Đông 2,25m và cách trụ biển báo cấm đi ngược chiều về hướng Nam 1,2m là điểm giao cắt, vuông góc với nhau.

Từ đầu phía Bắc vết (1) về hướng Bắc 2,9m là vạch trong cùng phía Nam của cục G giảm tốc thứ nhất (ký hiệu G1). Từ cục G1 về hướng Bắc 33m là cục G giảm tốc thứ 2 (ký hiệu G2), tiếp tục G giảm tốc về hướng Bắc 59,4m là cục G giảm tốc thứ 3 (ký hiệu G3).

* Kết quả khám phương tiện:

- Đối với xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01:

Kính chắn gió phía trước bên phải bị nứt vỡ hình mạng nhện KT (117x120)cm. Tại vị trí cách góc bên phải qua ben trái 30cm và cách đất lên 1,45cm phần kính bị vỡ vụn lõm vào trong.

Ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng, xi nhan bên phải bị bể vỡ hoàn toàn.

Góc bên phải cản trước đầu xe bị bể vỡ, bong tróc sơn, bám dính chất màu xanh và nâu đỏ trong diện KT (45x15)cm.

Đầu dưới trụ kim loại bên phải phía trước đầu xe bị trầy xước kim loại bám dính chất màu nâu đỏ KT (40x4)cm.

Mặt trước dưới góc bên phải khung kim loại cản trước đầu xe bị trầy xước kim loại bám dính chất màu trắng KT (50x0,2)cm.

Góc dưới phía trước cửa lên xuống (bên phải) bị bong tróc sơn, cong vênh kim loại.

Áp nhựa phía trên cụm đèn chiếu sáng bên phải phía trước đầu xe bị bong tróc sơn, nứt nhựa KT (50x25)cm.

Mặt nạ phía trước đầu xe tại vị trí cách đất lên 90cm, cách cạnh bên phải qua trái 19m bị vỡ nhựa.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Đèn, còi, phanh, hệ thống điều khiển còn tác dụng.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741:

Cụm đèn phía trước, xi nhan bị bể vỡ rơi ra ngoài.

Tay thắng bên phải bị mòn, khuyết kim loại.

Đầu mút tay cầm lái bên phải bị mòn khuyết kim loại.

Mặt bên phải đầu mút phía trước chắn bùn trước bánh xe trước bị bong tróc sơn, mòn nhựa.

Chắn bùn phía sau bánh xe trước bị bể vỡ nhựa, bám dính chất màu nâu đỏ. Bàn đạp chân thắng bị mòn kim loại, đẩy về sau.

Gác chân trước bên phải bị đẩy về sau xuống dưới, đầu mút bị mòn kim loại, bám dính chất màu đen.

Gác chân trước bên phải bị gãy rơi ra ngoài.

Ống xả nhiên liệu bị trầy xước kim loại KT (6x4)cm.

Ốp nhựa thân bên phải bị bể vỡ, trầy xước sơn bám dính chất màu nâu đỏ cách đất 50cm, trong diện KT (10x10)cm.

Tay nâng bên trái bị cong vênh bám dính chất màu nâu đỏ.

Ốp kim loại bảo vệ hộp truyền động bị méo, bám dính chất màu đỏ, xanh KT (13x3,5)cm.

Bách bắt gác chân sau bên trái bị gãy, mòn khuyết kim loại.

Thân xe bị đẩy qua bên phải.

Kỹ thuật án toàn phương tiện: Xe hư hỏng không kiểm tra được.

* Kết quả giám định dấu vết cơ học (điểm va chạm giữa các phương tiện) và tốc độ:

Theo bản kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 23/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

1. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 50F-003.01 với xe mô tô 51P8-6741 là góc trước bên phải đầu xe ô tô 50F-003.01 với khu vực ốp nhựa bên trái thân xe, đầu bên trái tay nâng, phuộc nhún sau bên trái xe mô tô 51P8-6741.

Sau điểm va chạm đầu tiên, xe mô tô 51P8-6741 bị ngã nghiên qua bên phải trên mặt đường, mặt trước dưới góc bên phải đầu xe ô tô 50F-003.01 chèn ép lên mặt trái xe mô tô 51P8-6741 (tạo ra các dấu vết tương ứng trên hai phương tiện) và đẩy trượt trên mặt đường theo hướng từ Bắc vào Nam; mặt bên phải xe mô tô 51P8-6741 chà xát với mặt đường tạo ra hệ thống dấu vết bên phải xe mô tô 51P8-6741.

2. Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô 50F-003.01 với xe mô tô 51P8-6741 là phía Bắc dấu vết cày xước mặt đường (1), thuộc làn đường dành cho xe cơ giới phía Đông, phần đường phía Tây quốc lộ 1A.

3. Không có cơ sở giám định tốc độ của hai phương tiện tại ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

* Kết quả giám định dữ liệu hành trình và tốc độ từng giây của xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01:

Theo phụ lục của bản kết luận số: 90/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi về giám định dữ liệu hành trình và tốc độ từng giây của xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01 trong vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/01/2023 tại đường quốc lộ 1A, thuộc Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi là 82km/h.

* Về tốc độ cho phép tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:

- Tại Công văn số 263/KQLĐBIII-QLĐT ngày 17/02/2023 của Khu quản lý đường bộ III, thuộc Cục đường bộ Việt Nam xác định: Vị trí Km1107+400, quốc lộ 1A, thuộc thôn Trung Sơn, xã Phổ Khánh, thị xã Đức Phổ, đoạn tuyến nằm ngoài phạm vi cắm biển báo số R.420 “Bắt đầu khu đông dân cư” và biển báo số R.421 “Hết khu đông dân cư”.

- Theo quy định tại Điều 7 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 28/9/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ thì tốc độ tối đa cho phép tại tuyến đường nơi xảy ra tai nạn là 80km/h.

* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và test nhanh ma túy đối với Nguyễn Ngọc C:

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và ma túy đối với Nguyễn Ngọc C. Qua kết quả kiểm tra, Nguyễn Ngọc C không có nồng độ cồn trong hơi thở và âm tính với ma túy.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-ĐP ngày 30/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 12 đến 16 tháng tù.

Áp dụng khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc C đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Đỗ L với số tiền 40.000.000đồng. Gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc C 01 (một) giấy phép lái xe hạng E số: 460979000283, họ tên: Nguyễn Ngọc C; ngày sinh: 01/9/1970; nơi cư trú: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/12/2019, có giá trị đến ngày 27/12/2024 (kèm theo hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc C và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị B, anh Đỗ Văn Đ, chị Đỗ Thị L, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, do đó, căn cứ theo quy định tại các điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, các kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/01/2023, Nguyễn Ngọc C điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 50F-003.01 di chuyển theo hướng từ Bắc vào Nam trên làn đường dành cho xe cơ giới phía Đông, thuộc phần đường phía Tây quốc lộ 1A. Khi đến đoạn đường Km1107+400, thuộc Thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, mặc dù tại đoạn đường này có các báo hiệu đường bộ để giảm tốc độ như: Cấm đi ngược chiều và vị trí người đi bộ sang ngang, đồng thời, bị cáo cũng đã phát hiện thấy ông Đỗ L đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741 di chuyển cùng chiều phía trước trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ phía Tây và đang dịch chuyển dần sang phần đường phía Đông, cách đầu xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 khoảng 50m nhưng do bị cáo chủ quan, không giảm tốc độ để phòng ngừa tai nạn nên dẫn đến góc trước bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 do bị cáo đang điều khiển va chạm với khu vực ốp nhựa bên trái thân xe, đầu bên trái tay nâng, phuộc nhún sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741 do ông L điều khiển, gây tai nạn. Hậu quả làm cho ông Đỗ L chết.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc C đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 4 Điều 11 và khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ. Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm nêu trên thì bị cáo Nguyễn Ngọc C có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo có giấy phép lái xe hạng E nên đủ điều kiện điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 tham gia giao thông, nhưng do bị cáo không tuân thủ đúng quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ nên đã gây ra tai nạn, làm cho ông Đỗ L chết.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và ma túy đối với Nguyễn Ngọc C. Qua kết quả kiểm tra, Nguyễn Ngọc C không có nồng độ cồn trong hơi thở và âm tính với ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng. Khi bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thì bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Điều này thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.

Tại thời điểm bị cáo Nguyễn Ngọc C thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền là 40.000.000đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Ngoài ra, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi do chuyển hướng qua đường nhưng không chú ý quan sát. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Ngọc C đã bị xử phạt hình phạt tù có thời hạn. Do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Nguyễn Ngọc C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền là 40.000.000đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại về dân sự và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 51P8-6741, xe ô tô biển kiểm soát 50F-003.01 và các giấy tờ có liên quan. Các vật chứng nêu trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ tạm giữ để phục vụ công tác điều tra và đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng E số: 460979000283, họ tên: Nguyễn Ngọc C; ngày sinh: 01/9/1970; nơi cư trú: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/12/2019, có giá trị đến ngày 27/12/2024 (đã được chuyển sang Tòa án kèm theo hồ sơ vụ án). Đây là giấy tờ được Cơ quan có thẩm quyền cấp cho bị cáo Nguyễn Ngọc C, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc C.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Áp dụng khoản khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc C 01 (một) giấy phép lái xe hạng E số: 460979000283, họ tên: Nguyễn Ngọc C; ngày sinh: 01/9/1970; nơi cư trú: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/12/2019, có giá trị đến ngày 27/12/2024 (đã được chuyển sang Tòa án kèm theo hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Ngọc C và những người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại và đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ