vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh:

1 Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. 2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn V L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày 14-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải Đăng và Bà Nguyễn Hải Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 về tội “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn V L, sinh ngày 19/01/2002 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 17, KP. M, TT. M, huyện C, tỉnh K; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn V T, sinh năm 1975 và bà Liên Thị Bích L, sinh năm 1979; Vợ chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2022, tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Phạm Hữu T1 (T1 Mở), sinh năm 1994 (có mặt)

Trú tại: KP. M, TT. M, huyện C, tỉnh K

Người tham gia tố tụng khác: Ông Đoàn Quang H, sinh năm 1975 là người làm chứng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T1 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 23/10/2022 Phạm Hữu T1 và Danh Hoài V đến nhà ông Đoàn Quang H trú tại ấp Gò Đất, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang chơi. Đến khoảng 02 giờ, ngày 24/10/2022 Nguyễn V L cũng đến đây chơi. Lúc này có T1, V, H và L ngồi nói chuyện với nhau. Trong lúc nói chuyện, L xin T1 200.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng thì T1 đồng ý và đưa cho L 200.000 đồng. L không biết chỗ mua ma túy nên điều khiển xe đi nhờ Vỹ (không rõ nhân thân) mua giùm, Vỹ đi đâu không rõ, khoảng 15 phút sau, Vỹ đến quán Tre Vàng thuộc ấp Minh L, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đưa 01 bịch ma túy cho L. L đem ma túy về nhà H, H đem dụng cụ sử dụng ma túy ra để cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 đi lên võng nằm, L đi vào phòng của ông H nằm, còn H và V thì ngồi kế bên T1. Đến khoảng 03 giờ, ngày 24/10/2022 do mất kiểm soát sau khi sử dụng ma túy, L nghĩ T1 nói xấu L nên L đi từ phòng ngủ vào bếp lấy cây dao ra chém vào người T1 03 nhát thì được H và V can ngăn nên L bỏ đi còn T1 thì được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang để điều trị. Tại Cơ quan cánh sát điều tra, Nguyễn V L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận giám định số: 740/TgT ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm Pháp y Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích của anh Phạm Hữu T1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng lưng trái và cánh tay trái (vết 1).

- Vết thương cánh tay trái (vết 2) đứt phần cơ nhị đầu, tam đầu, thần kinh quay, mẻ (đứt) xương cánh tay trái, đã được phẫu thuật điều trị. Hiện tổn thương bán phần kinh quay trái, cứng khớp khuỷu trái và còn sẹo.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 39% (Ba mươi chín phần trăm).

3. Vật gây thương tích: vật sắc; vật chứng (cây dao) gửi giám định gây ra được các thương tích trên.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-CT ngày 18/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Nguyễn V L về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn V L phạm tội: “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn V L từ 06 đến 07 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự, xử buộc bị cáo Nguyễn V L phải bồi thường cho anh Phạm Hữu T1 tổng số tiền 40.000.000 đồng, (Trong đó, chi phí điều trị thương tích là 9.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 31.000.000 đồng).

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao yếm mũi bầu dài 40,6 cm, phần cán bằng tre dài 15,3 cm trên phần cán có gắn kim loại hình tròn màu đen, phần lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25,3 cm, nơi rộng nhất 5,4 cm.

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T1 liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các T1 liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào ngày 23/10/2022 Phạm Hữu T1, Danh Hoài V và Nguyễn V L đi đến nhà ông Đoàn Quang H trú tại ấp Gò Đất, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang chơi. Trong quá trình ở đây cả nhóm cùng ngồi nói chuyện và cùng sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng ma túy, T1 đi lên võng nằm, L đi vào phòng của ông H nằm, còn ông H và V thì ngồi kế bên T1. Đến khoảng 03 giờ, ngày 24/10/2022 do sử dụng ma túy bị mất kiểm soát nên L nghe T1 nói xấu L, nên L đi vào bếp lấy cây dao ra chém liên tiếp 03 nhát vào người anh T1 thì được mọi người can ngăn. Tại bản giám định pháp y về thương tích kết luận sức khoẻ của anh Phạm Hữu T1 bị suy giảm do thương tích gây ra là 39%. Từ đó cho thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn V L về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

2.1 Đối với việc Phạm Hữu T1, Nguyễn V L và Đoàn Quang H khai nhận trước khi L gây thương tích cho T1 thì cả nhóm có sử dụng ma túy. Trong quá trình điều tra, xác định hiện nay V không có mặt tại địa phương nên không thể triệu tập làm việc được. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành cũng đã tiến hành truy tìm các dụng cụ sử dụng ma túy nhưng không thu được nên chưa thể xử lý. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Bản thân bị cáo là người trưởng thành và có đủ năng lực nhận thức rõ sử dụng ma tuý sẽ gây ra ảo giác, dẫn đến bao nhiêu hệ luỵ xấu cho xã hội mà không thể lường trước được. Mặc dù nhận thức rõ được đều đó, thế nhưng chỉ vì lối sống buông thả thiếu trách nhiệm với bản thân bị cáo vẫn cố ý sử dụng ma tuý, dẫn đến hậu quả mất kiểm soát, gây ảo giác nên nghỉ rằng anh T1 đang nói xấu bị cáo, bị cáo liền lấy dao chém nhiều nhát vào người anh T1. Hậu quả làm cho sức khoẻ anh T1 bị suy giảm đến 39%. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như tinh thần của bị hại mà qua đây còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX nghị án nhận thấy cần có mức án nghiêm và cần tách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và nhằm phòng ngừa chung cho các trường hợp tương tự khác xảy ra.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Do đó, bị cáo đủ điều kiện được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt khi lượng hình, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sửa đổi bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX chấp nhận để xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại anh Phạm Hữu T1 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích là 9.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 31.000.000 đồng. Tổng số tiền anh T1 yêu cầu bồi thường là 40.000.000 đồng, ngoài ra anh không yêu cầu gì thêm. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh T1 nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[8] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với cây dao yếm mũi bầu dài 40,6 cm, phần cán bằng tre dài 15,3 cm trên phần cán có gắn kim loại hình tròn màu đen, phần lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25,3 cm, nơi rộng nhất 5,4 cm mà bị cáo sử dụng để gây án. Trong quá trình điều tra, xác định đây là cây dao của ông H nhưng do ông H không yêu cầu nhận lại. Xét thấy, cây dao trên không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

1.1 Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

1.2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn V L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn V L 06 (sáu) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 29/12/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn V L 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận xử buộc bị cáo Nguyễn V L phải bồi thường cho anh Phạm Hữu T1 chi phí điều trị thương tích là 9.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 31.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh T1 là 40.000.000 đồng.

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao yếm mũi bầu dài 40,6 cm, phần cán bằng tre dài 15,3 cm trên phần cán có gắn kim loại hình tròn màu đen, phần lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25,3 cm, nơi rộng nhất 5,4cm.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 26/QĐ-VKS-CT ngày 18/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, xử: Buộc bị cáo Nguyễn V L phải nộp 200.000 đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm và (40.000.000 đồng x 5%) = 2.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ