- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN THIÊN H VA ĐÔNG PHAM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HS-ST Ngày 28 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Quốc Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phan Thị Tuyết và bà Trần Thị Thúy Vinh.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hồng Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Mai Anh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 4 năm 2023; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 01/2023/QĐ-TA ngày 28/4/2023, đối với các bị cáo:
1. Phan Thiên H, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1992 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M và bà Trần Thị Th; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2023 cho đến ngày 06/3/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
2. Nguyễn Văn C, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1984 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H; có vợ Hoàng Thị Kim C và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2023 cho đến ngày 06/3/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
3. Nguyễn Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1992 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có vợ Hồ Thị H, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2023 cho đến ngày 06/3/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
4. Nguyễn Việt H, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2003 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh và bà Bùi Thị Th; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2023 cho đến ngày 06/3/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
5. Nguyễn Tiến H, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2004 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ch và bà Dương Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2023 cho đến ngày 06/3/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Phan Văn M, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Bà Trần Thị Th, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
+ Chị Trần Thị Th, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tr, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 02/3/2023, tại nhà của ông Phan Văn M và bà Trần Thị Th là bố, mẹ của Phan Thiên H, có Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H đang ngồi chơi. Khoảng 10 phút sau thì Nguyễn Việt H đến. Trong lúc cả nhóm đang ngồi chơi thì Hoàng nói “làm tý hè”, ý là hẹn mọi người đánh bạc nên Côi, Hào và Hùng đồng ý. Hoàng đi bộ ra quán tạp hóa “Thành Chức” tại thôn 1, xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch mua 03 bộ bài Tu lơ khơ, loại 52 quân bài, màu đỏ rồi đem về. Sau đó Hoàng, Côi, Hào và Hùng tới gầm cầu thang trong nhà đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức “Bài cào”. Một lúc sau thì Nguyễn Tiến H đến và tham gia đánh bạc cùng với Hoàng, Côi, Hào và Hùng. Hình thức đánh bạc được quy định cụ thể như sau: Mỗi người sẽ đặt 50.000 đồng lên chiếu bạc, sau đó sử dụng bộ bài Tu lơ khơ loại 52 quân bài màu đỏ chia cho mỗi người tham gia đánh bài 03 quân bạc. Những người tham gia đánh bạc sẽ so sánh giá trị bài với nhau, nếu người nào có giá trị bài lớn sẽ thắng toàn bộ số tiền đặt cược ban đầu. Chất quân bài được tính từ lớn đến bé theo thứ tự như sau: Cơ, rô, chuồn, bích; Các quân bài được tính thứ tự từ bé đến lớn như sau: 2,3,4,5,6,7,8,910, J, Q, K, A. Giá trị bài được quy định như sau: Lớn nhất là ba tây (hay còn gọi là ba cào), tức tổ hợp ba quân bài có hình người, ví dụ như “J,J,Q; Q,K,K”. Nếu có từ 02 người chơi trở lên có cùng “ba tây” thì sẽ tính chất của quân bài, chất của bài người nào lớn hơn thì người đó thắng; tiếp theo là “điểm”, tức cộng số điểm của tổ hợp ba quân bài, sau đó lấy hàng đơn vị là số điểm của bài người chơi, thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 9 điểm; cây J,Q,K có giá trị là 0 điểm, cây A có giá trị là 1 điểm, từ cây bài 2 đến cây bài 10 điểm được tính là số tương đương trong cây bài đó; nếu có từ 2 người chơi trở lên có cùng điểm thì sẽ tính chất của quân bài, chất của bài người nào lớn hơn thì người đó thắng. Cả nhóm đánh bài đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Bố Trạch phát hiện bắt quả tang, lập biên bản tổng số tiền là 11.480.000 đồng và thu giữ các đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án bao gồm:
Tổng số tiền đánh bạc là 11.480.000 đồng mà các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc (trong đó: thu giữ của Nguyễn Văn C số tiền là 7.530.000 đồng, thu giữ của Nguyễn Việt H số tiền là 1.400.000 đồng, thu giữ của Nguyễn Quang H số tiền là 1.000.000 đồng, thu giữ của Phan Thiên H số tiền là 500.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Tiến H số tiền là 500.000 đồng; thu giữ giữa chiếu bạc số tiền là 550.000 đồng)
Thu giữ 02 bộ bài Tu lơ khơ màu đỏ chưa qua sử dụng và 49 quân bài tu lơ khơ màu đỏ đã qua sử dụng (tại thời điểm bắt quả tang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch thư giữ 49 quân bài tu lơ khơ, màu đỏ của bộ bài 52 quân bài mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc, trong bộ bài thiếu 03 quân bài (A bích, 9 bích và 8 cơ); tuy nhiên, ngày 06/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã truy tìm toàn khu vực bên trong và xung quan nhà, nơi các bị cáo đánh bạc, nhưng không tìm thấy, cho nên bộ bài đó hiện chỉ còn lại 49 quân bài).
Tại Cáo trạng số: 44/CT-VKSBT ngày 11/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật hình sự: phạt bị cáo Phan Thiên H từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, phạt Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H và Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.480.000 đồng và tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài Tu lơ khơ màu đỏ chưa qua sử dụng và 49 quân bài tú lơ khơ màu đỏ đã qua sử dụng.
Các bị cáo đều nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo đều rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin hứa sẽ không phạm tội nữa. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng ông Phan Văn Mặc, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai của người này nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H đều khai nhận: Chính các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức “Bài cào tố 03 cây” và đã bị Công an huyện Bố Trạch bắt quả tang tại nhà Phan Thiên H với số tiền sử dụng để đánh bạc là 11.480.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về tính đồng phạm: Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ hoặc câu kết chặt chẽ trước khi phạm tội mà việc phạm tội chỉ được thực hiện khi có người đề xướng thì các bị cáo đồng thuận thực hiện, các bị cáo đều là những người chủ động và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
Về vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo thấy:
Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được hành vi đánh bạc dưới bất cứ hình thức nào đều vi phạm pháp luật nhưng do thiếu ý thức rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, có máu đỏ đen nên cùng tụ tập lại sát phạt nhau nhằm tước đoạt tiền của nhau. Trong các bị cáo thì bị cáo Phan Thiên H là người đề xướng ra việc đánh bạc ăn tiền, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H khi nghe bị cáo Hoàng đề xướng các bị cáo cũng không từ chối mà đã chủ động tham gia một cách tích cực, từ đầu cho đến lúc bị bắt quả tang nên cũng cần phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi của mình. Còn bị cáo Nguyễn Tiến H khi thấy Hoàng, Côi, Hào và Hùng đánh bạc, đã không can ngăn mà hưởng ứng tham gia tích cực cho đến khi bị bắt quả tang nên cũng cần xử lý nghiêm nhưng với mức độ thấp hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, chấp nhận hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo, cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Vì đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy vật chứng số tiền đã thu giữ của các bị cáo, là số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; các vật chứng còn lại bị thu giữ là công cụ, phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án này, có ông Phan Văn M và Trần Thị Th (là bố, mẹ của bị cáo Hoàng) là chủ căn nhà mà các bị cáo làm nơi đánh bạc. Nhưng tại thời điểm các bị cáo đánh bạc ông Mạc và bà Thảo đi chơi ở nhà hàng xóm, không biết việc các bị cáo sử dụng nhà của mình để đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý; đối với bà Trần Thị Th đã bán cho bị cáo Phan Thiên H 03 bộ bài Tu lơ khơ nhưng bà Thành không biết Hoàng sử dụng 03 bộ bài trên vào mục đích đánh bạc ăn tiền nên cũng không có cơ sở để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Phạt bị cáo Phan Thiên H số tiền 30.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phạt bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 25.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phạt bị cáo Nguyễn Quang H số tiền 25.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phạt bị cáo Nguyễn Việt H số tiền 25.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phạt bị cáo Nguyễn Tiến H số tiền 22.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.480.000 đồng (mười một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003064 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ngày 21/4/2023.
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tu lơ khơ màu đỏ chưa qua sử dụng và 49 quân bài tu lơ khơ màu đỏ đã qua sử dụng (vật chứng có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ngày 19/4/2023).
5. Về án phí: Buộc các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Việt H, Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Các bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Quốc Tân |