vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Thị Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Thị Th 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 27/6/2022). Về xử lý vật chứng:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Thị Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Thị Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Đỗ Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Diện

Ông Hoàng Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Bế Thị Th (Tên gọi khác: không), sinh ngày 08 tháng 03 năm 1992 tại huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: tổ 3, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Long B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; Chồng, con: không có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tại bản án số 48/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt bị cáo Bế Thị Th 30 (ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 27/6/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; (Vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ 13, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; (Vắng mặt)

+ Anh Phạm Việt T, sinh năm 1995; Nơi cư trú: thôn 65, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 02 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, tại km 59+60 Quốc lộ 2, thuộc địa phận tổ 3, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang bắt quả tang Bế Thị Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể: 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong có 03 (ba) chiếc áo dài màu trắng, trong đó 01 (một) áo dài có 01 (một) túi nilon trắng viền túi màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Th tại tổ 3, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, thu giữ 01 cân điện tử màu trắng, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 bộ cóong bằng thủy tinh có vòi nối đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra Bế Thị Th khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Th sử dụng điện thoại di động vào tài khoản Telegram tên “Th Mit” (Số điện thoại 0989292020) nhắn tin cho một người đàn ông tên M với tài khoản “manh ngoc” (Số điện thoại 0971498228, Th không biết địa chỉ cụ thể của M, chỉ biết M ở Km21 Hàm Yên, Tuyên Quang) để hỏi mua ma túy đá thì M đồng ý bán cho Th 10 (mười) gam ma túy đá với giá 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Th thỏa thuận với M sẽ chuyển khoản trước số tiền 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền còn lại sẽ trả sau. Th yêu cầu M gửi ma túy cho Th qua xe khách thì M trả lời “có gì để anh bảo H”. Sau đó, Th liên lạc với H qua phần mềm Zalo để hỏi xem M có đưa ma túy cho H không thì H trả lời là M có gửi một túi 10 (mười) gam ma túy (Th không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của H, Th gặp H và M một lần tại Hà Nội). Th hướng dẫn H cho túi ma túy vào trong áo rồi cho áo vào túi nilon gói lại, bên ngoài ghi tên, số điện thoại của Th đồng thời gửi cho H số điện thoại nhà xe Ngọc Cường để H gửi ma túy. Sau khi thống nhất mua ma túy xong, Th vay của Nguyễn Sỹ T sinh năm 1972, trú tại tổ 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang số tiền 2.600.0000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Do số tài khoản của Th bị lỗi nên Th bảo T chuyển tiền vào số tài khoản 102872771764 của Hoàng Thị Th1, sinh năm 1991, trú tại tổ 12, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Sau đó, Th nhờ Th1 chuyển số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho M qua số tài khoản 0389369999. Đến khoảng 02 giờ ngày 27/6/2022, Th gọi điện cho nhà xe Ngọc Cường để hỏi về gói hàng thì được báo khoảng 05 (năm) phút nữa xe khách sẽ đến nơi, đồng thời Th yêu cầu nơi nhận hàng là cách ngã ba Quang Bình đi lên khoảng 200m hướng đi Hà Nội – Hà Giang. Sau đó, Th rủ Th1 cùng nhau đi bộ đến ngã ba giao nhau giữa đường Trường Chinh và Lê Quý Đôn thuộc tổ 3, thị trấn V, huyện B để đón xe khách lấy túi đồ. Th đứng bên phải đường theo hướng Hà Nội – Hà Giang để đón xe, còn Th1 đứng bên trái đường đợi Th. Sau khi nhận được túi đồ bên trong có ma túy do H gửi từ Phạm Việt T, sinh năm 1995, trú tại thôn 65, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (phụ xe xe khách Ngọc Cường), Th cầm túi đồ trên tay và đi bộ về phía Thời thì bị lực lượng Công an phát hiện nên Th đã vứt túi đồ xuống đường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Th 01 (một) túi nilon trắng viền túi màu đỏ có chứa các hạt tinh thể màu trắng, số tiền 170.000đ (một trăm bảy mươi nghìn đồng) cùng các đồ vật, tài liệu khác để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 27/06/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng các hạt tinh thể màu trắng đã thu giữ của Bế Thị Th xác định: các hạt tinh thể màu trắng có khối lượng 9,44gam (chín phẩy bốn bốn gam), ký hiệu A1. Cùng ngày 27/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Bế Thị Th và Hoàng Thị Th1. Kết quả kiểm tra: tại thời điểm kiểm tra, Bế Thị Th dương tính với nhóm ma túy MDMA và MET. Hoàng Thị Th1 dương tính với nhóm ma túy MET.

Tại Kết luận số 231/KL-KTHS ngày 01/07/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: “Chất tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 9,44gam (chín phẩy bốn bốn gam). Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.”

Ngày 29/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang ban hành quyết định trưng cầu giám định số 273, trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang tiến hành giám định đối với số tiền 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng), gồm 07 (bảy) tờ tiền có các mệnh giá khác nhau thu giữ khi bắt quả tang Bế Thị Th là tiền thật hay giả? Ngày 01/01/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang ban hành kết luận giám định số 19/KL-KTHS kết luận: "Bảy tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật".

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 24/CT-VKSBQ ngày 03/3/2023 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Bế Thị Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Bế Thị Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, đoạn 1 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bế Thị Th từ 06 năm đến 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ. Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau: số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong, mặt trước có chữ "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1", 01 cân điện tử, 01 bộ cóong thủy tinh có vòi nối, 03 chiếc áo dài màu trắng, 01 hộp bìa cattong niêm phong cũ, trên mặt có chữ "Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Bế Thị Th ngày 27/6/2022 tại tổ 3, thị trấn Việt Quang-Bắc Quang-Hà Giang"; Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động, mặt sau màu xanh có hình quả táo, ốp lưng bằng nhựa mầu nâu, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Th số tiền 170.000đ thu giữ của Bế Thị Th; Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang quản lý 01 (một) hộp bìa cattong bên trên có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1"; 01 (một) hộp bìa cattong bên trên có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A2".

Bị cáo Bế Thị Th nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa những lỗi lầm đã mắc phải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, kH nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/6/2022, vật chứng thu giữ được, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, biên bản xét nghiệm chất ma túy, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng mẫu vật và niêm phong, kết luận giám định số 231/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bế Thị Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Khối lượng chất ma túy Bế Thị Th tàng trữ là 9,44 gam (chín phẩy bốn mươi bốn gam) ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang truy tố bị cáo Bế Thị Th về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có nội dung quy định như sau: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….....2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:........g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mặt khác còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo buộc phải hiểu chất ma túy là chất gây nghiện nghiêm trọng, hủy hoại sức khỏe của người mắc nghiện. Ma túy còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Tuy nhiên do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, mặt khác nhằm răn đe, phòng ngừa và làm gương cho kẻ khác.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bố đẻ bị cáo là ông Bế Long B được thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, năm 2014 bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù, hiện đã được xóa án tích. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để có mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo trong vụ án này.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với người đàn ông tên M và người đàn ông tên H, Bế Thị Th khai là những người đã bán ma túy cho Th. Quá trình điều tra, chưa đủ tài liệu, chứng cứ để khởi tố đối với người bán ma túy cho Bế Thị Th trong vụ án này. Tại Bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang thể hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang tiếp tục điều tra khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo đúng luật định. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự của người bán ma túy cho Bế Thị Th trong vụ án này.

[8] Đối với Hoàng Thị Th1 là người chuyển tiền giúp Th và đi cùng Th ra đường đón xe khách lấy ma túy nhưng quá trình điều tra không chứng minh được Th1 đồng phạm với Th. Đối với Phạm Việt T (phụ xe xe khách Ngọc Cường) là người vận chuyển gói hàng bên trong có ma túy cho Th nhưng T không biết bên trong gói hàng là ma túy. Đối với Nguyễn Sỹ T là người đã cho Th vay tiền nhưng không chứng minh được T biết việc Th vay tiền để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bế Thị Th và Hoàng Thị Th1. Căn cứ biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu ngày 27/6/2022, Công an tỉnh Hà Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 12/7/2022 bằng hình thức Cảnh cáo đối với Hoàng Thị Th1. Công an huyện Bắc Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 15/01/2023 bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đối với Bế Thị Th. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[10] Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:

- Đối với số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong, mặt trước có chữ "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1", là vật cấm lưu hành; Đồng thời các vật chứng gồm 01 cân điện tử, 01 bộ cóong thủy tinh có vòi nối, 03 chiếc áo dài màu trắng, 01 hộp bìa cattong niêm phong cũ, trên mặt có chữ "Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Bế Thị Th ngày 27/6/2022 tại tổ 3, thị trấn Việt Quang-Bắc Quang-Hà Giang", đây là các vật không có giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động, mặt sau màu xanh có hình quả táo, ốp lưng bằng nhựa mầu nâu, đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 170.000đ thu giữ của Bế Thị Th được niêm phong trong một phong bì mầu trắng có viền xanh, đỏ, trắng và hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang tạm gửi tại kho bạc Nhà nước huyện Bắc Quang, quá trình điều tra chứng minh số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Th.

- Đối với các vật chứng: + 01 túi nilon màu xanh trong tình trạng rách rời, mặt ngoài túi có 01 mảnh giấy màu trắng được dán cố định bằng băng dính trong suốt, trên mảnh giấy có ghi dòng chữ màu đỏ có nội dung "Bế Thị Th, SĐT: 0989292020 Ngã ba Quang Bình" được đựng trong 01 hộp bìa cattong bên trên có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1" mặt ngoài được dán niêm phong kín bằng các dải giấy niêm phong màu trắng, trên niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong; + 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu đỏ được đựng trong 01 hộp bìa cattong mặt ngoài có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A2", mặt ngoài được dán niêm phong kín bằng các dải giấy niêm phong màu trắng, trên niêm phong có các hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là các vật chứng mang dấu vết của đối tượng bán ma túy cho bị cáo Bế Thị Th mà cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra thể hiện tại bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng, do đó không tịch thu, tiêu hủy mà giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang quản lý.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Thị Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Thị Th 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 27/6/2022).

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước có chữ "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1", mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của ông Đinh Đại Sơn và ông Bùi Văn Kiên,

+ 01 (một) cân điện tử màu trắng, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng,

+ 01 (một) bộ coóng thủy tinh có vòi nối đã qua sử dụng,

+ 03 chiếc áo dài màu trắng,

+ 01 hộp bìa cattong niêm phong cũ, trên mặt có chữ "Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Bế Thị Th ngày 27/6/2022 tại tổ 3 thị trấn Việt Quang-Bắc Quang-Hà Giang".

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, mặt sau màu xanh có hình quả táo, ốp lưng bằng nhựa mầu nâu, cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Bế Thị Th số tiền 170.000đ (Một trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền Việt Nam gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau khi bắt quả tang thu giữ của Bế Thị Th được niêm phong trong một phong bì mầu trắng có viền xanh, đỏ, trắng có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang đang tạm gửi số tiền nêu trên tại kho bạc Nhà nước huyện Bắc Quang tại Biên bản giao nhận tài sản số 21/BBBG-KBBQ ngày 17/01/2023, Chi cục THADS huyện Bắc Quang tiếp nhận lại từ kho bạc để trả lại cho bị cáo Bế Thị Th.

- Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang quản lý các vật chứng:

+ 01 (một) hộp bìa cattong bên trên có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1", mặt ngoài được dán niêm phong kín bằng các dải giấy niêm phong màu trắng, trên niêm phong có các dấu hình tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong,

+ 01 (một) hộp bìa cattong bên trên có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A2", mặt ngoài được dán niêm phong kín bằng các dải giấy niêm phong màu trắng, trên niêm phong có các dấu hình tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang ngày 14-03-2023).

4. Về án phí: Bị cáo Bế Thị Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bế Thị Th có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ