vanban.org

Bản án 34/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c,đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải N và bị cáo Nguyễn Thế L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P về hình phạt đói với bị cáo Nguyễn Hải N và bị cáo Nguyễn Thế L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Lâm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c,đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-PT
Ngày 29 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Hoàng Tiến Dũng;

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Hà Giang;

Ông Nguyễn Quang Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế L và bị cáo Nguyễn Hải N đối với Bản án hình sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thế L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1995, tại huyện Đ, tỉnh P; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú:khu Vân Tập, xã Hợp Nhất, huyện Đ, tỉnh P; Giới tính: N; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Đảng phái: Không; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 158/QĐ-XPHC, ngày 17/9/2022 của Công an huyện Đ đã xử phạt Nguyễn Thế L 350.000đ về hành vi “Mua các số lô”, nộp xong ngày 22/9/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022 thì hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là “cấm đi khỏi nơi cư trú” và được tại ngoại. (Có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Hải N,sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988, tại: huyện Đ, tỉnh P;Tên gọi khác: Không;Nơi cư trú:khu Xuân Áng, xã Chí Đám, huyện Đ, tỉnh P; Giới tính: N; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1960 và bà: Lương Thị Đ, sinh năm 1960;Vợ: Trương Thị Tố U, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 164/2009/HSST, ngày 17/12/2009 của TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Hải N 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” (chấp hành xong án phạt tù ngày 07/9/2010, chấp hành nộp án phí ngày 17/12/2009).

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ-VPHC, ngày 28/3/2015 của Công an huyện Đ đã xử phạt Nguyễn Hải N 2.500.000đ về hành vi “ Trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của người khác”, nộp phạt xong ngày 06/4/2015.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là “cấm đi khỏi nơi cư trú” và được tại ngoại. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Hà Huy T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Khu 19, xã Bắc Sơn, huyện T, tỉnh P. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ ngày 19/9/2022, tại phòng ở của Công ty TNHH Xây dựng và Bê tông 19 ở khu Hưng Tiến, thị trấn Đ, huyện Đ, Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Huân, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú ở xã Ngọc Quan, huyện Đ; Nguyễn Hải N, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú ở xã Chí Đám, huyện Đ; Cấn Xuân Hùng, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú ở xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh P; Nguyễn Thế L, sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú ở xã Hợp Nhất, huyện Đ; Nguyễn Văn Bách, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú ở xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh N Định, Lương Xuân Thế, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú ở xã Đông Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Đặng Quốc Bảo, sinh năm 1986 và Vi Xuân Trình, sinh năm 1990, đều có hộ khẩu thường trú ở xã Bắc Sơn, huyện T, tỉnh P đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức “xóc đĩa”, thắng thua bằng tiền. Thu giữ tại vị trí đánh bạc số tiền 7.150.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 01 đệm mút, khám người các đối tượng tạm giữ số tiền 3.420.000 đồng và 08 điện thoại di động các loại.

Cơ quan điều tra đã làm rõ như sau:Vào tối 19/9/2022, Nguyễn Văn Bách ăn cơm, uống rượu cùng công nhân của Công ty TNHH Xây dựng và Bê tông 19 đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu xong, Cấn Xuân Hùng, Nguyễn Thế L, Đặng Quốc Bảo, Vi Xuân Trình, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Hải N và Lương Xuân Thế cùng một số công nhân khác lần lượt lên phòng ở dành cho công nhân tại tầng 2 dãy nhà làm việc của Công ty TNHH Xây dựng và Bê tông 19 để nghỉ. Trong thời gian nghỉ ngơi, Nguyễn Thế L rủ các bị cáo đánh bạc dưới hình thức “xóc đĩa”, các bị cáo đều đồng ý.

Nguyễn Văn Huân lấy 01 bát và 01 đĩa sứ, loại thường dùng ăn cơm hàng ngày có sẵn ở trong phòng ngủ, cắt 04 quân vị bằng quân bài tú lơ khơ, một mặt in hình trái tim màu đỏ (là chất Cơ) của quân bài tú lơ khơ, mặt sau màu xanh thẫm in hình hoa văn. Quá trình đánh bạc, đầu tiên chỉ có 04 người, ngồi trên đệm mút vỏ màu đỏ trải ở nền phòng, gồm: L, Huân, Bách, N, sau đó lần lượt Hùng, Bảo, Thế, Trình vào tham gia đánh bạc cùng, Huân là người xóc cái.

Hình thức đánh bạc như sau: Huân cho 04 quân vị vào đĩa sứ, úp bát sứ lên, tay cầm bát và đĩa xóc lên một vài cái, sau đó đặt xuống đệm, bên phải Huân là cửa “chẵn”, bên trái Huân là cửa “lẻ”, những người tham gia đánh bạc còn lại đặt cược theo cửa “chẵn” hoặc “lẻ”, mức cá cược thấp nhất là 10.000 đồng (mười nghìn đồng)/ván; cao nhất là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)/ván. Khi Huân mở bát, nếu 02 hoặc 04 quân vị cùng màu là “chẵn”, người đặt cửa “chẵn” được tiền từ Huân, người đặt cửa “lẻ” mất số tiền đã đặt cho Huân; trường hợp 01 hoặc 03 quân vị cùng màu là “lẻ”, người đặt tiền cửa “lẻ” được tiền từ Huân, người đặt cửa “chẵn” mất số tiền đặt cho Huân. Các bị cáo đánh bạc liên tục từ khoảng 20 giờ 30 phút đến 22 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản bắt quả tang như đã nêu trên.

Trước khi đánh bạc, Nguyễn Thế L mang theo 940.000 đồng, sử dụng 900.000 đồng đánh bạc, thắng 400.000 đồng; còn lại số tiền 40.000 đồng L cất trong người không sử dụng đánh bạc. Nguyễn Văn Huân mang theo 1.230.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc, thắng 600.000 đồng; còn lại số tiền 230.000 đồng Huân cất trong người không sử dụng đánh bạc. Cấn Xuân Hùng mang theo và sử dụng 720.000 đồng đánh bạc, thua hết số tiền đánh bạc. Đặng Quốc Bảo mang theo và sử dụng 900.000 đồng đánh bạc, thắng 450.000 đồng. Vi Xuân Trình mang theo và sử dụng 900.000 đồng đánh bạc, thua hết số tiền đánh bạc. Nguyễn Hải N mang theo 4.150.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc, thắng 400.000 đồng; còn lại số tiền 3.150.000 đồng N cất trong người không sử dụng đánh bạc. Lương Xuân Thế mang theo và sử dụng 830.000 đồng đánh bạc, thua hết số tiền đánh bạc. Nguyễn Văn Bách mang theo và sử dụng 900.000 đồng đánh bạc, thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.150.000 đ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện ĐoanHùng, tỉnh P đã quyết định:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hải N.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật

hình sự đối với Nguyễn Thế L.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hải N, Nguyễn Thế Lphạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt các bị cáo:

- Nguyễn Thế L 09 (chín) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ (Từ

ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022).Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo L đi chấp hành án.

- Nguyễn Hải N 09 (chín) tháng tù.Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ (Từ

ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022).Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo N đi chấp hành án.

Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.

Ngày 02/3/2023, bị cáo Nguyễn Thế L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt,bị cáo Nguyễn Hải N có đơn kháng cáo xin đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa bị cáo N xin được cải tạo ngoài xã hội để có điều kiện chăm sóc gia đình và nuôi dạy con vì các cháu còn nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự. sửa bản án hình sự sơ thẩm số:11/2023/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Ptheo hướng:Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Ntừ 18 đến 24 tháng cải tạo, bị cáo Nguyễn Thế Ltừ 03 đến 04 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ được, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 22 giờ ngày 19/9/2022, tại phòng ở dành cho công nhân của Công ty TNHH Xây dựng và Bê tông 19 ở khu Hưng Tiến, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Hải N, Nguyễn Văn Bách, Cấn Xuân Hùng, Nguyễn Thế L, Đặng Quốc Bảo, Vi Xuân Trình và Lương Xuân Thế đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức “xóc đĩa” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.150.000đ (bẩy triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá trừ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo L là người có tiền sự việc hành vi “Mua các số lô” đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 17/9/2023, sau 02 ngày lại tiếp tục phạm tội đánh bạc tức ngày 19/9/2023 thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, mặc dù trước đó 02 ngày đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không coi đó là bài học mà sau 02 ngày lại tiếp tục phạm tội đánh bạc.

Đối với bị cáo N: Tại Bản án số 164/2009/HSST, ngày 17/12/2009 của TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Hải N 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” (chấp hành xong án phạt tù ngày 07/9/2010, chấp hành nộp án phí ngày 17/12/2009), ngày 28/3/2015 của Công an huyện Đ đã xử phạt Nguyễn Hải N 2.500.000đ về hành vi “ Trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của người khác”, nộp phạt xong ngày 06/4/2015. Sau khi xem xét nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên,trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo N cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là bị cáo có ông nội là liệt sỹ đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Công ty nơi làm việc của bị cáo N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là những tình mới nên cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo N mặc dù hiện nay Công ty TNHH xây dựng và bê tông 19 vẫn cho làm việc nhưng mức thu nhập chỉ khoảng 04 triệu đồng/tháng và lương không ổn định nên không đủ cho chi tiêu sinh hoạt trong gia đình nên miễn hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập cho bị cáo nhưng buộc phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 BLHS.

Đối với bị cáo L trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo L cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là bị cáo có tham gia nhập ngũ năm 2014. Công ty nơi làm việc của bị cáo L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, ngày 01/6/2023 ủng hộ quỹ vì người nghèo tại UBND xã Hợp nhất, huyện Đ số tiền 02 triệu đồng có xác nhận của chính quyền địa phương.

Đây là những tình mới nên cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cấp phúc thẩm xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tù có thời hạn cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung,

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c,đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải N và bị cáo Nguyễn Thế L.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P về hình phạt đói với bị cáo Nguyễn Hải N và bị cáo Nguyễn Thế L.

[2] Điều luật áp dụng và hình phạt:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải N phạm tội“Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N 27 (Hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 03 ngày bị tạm giữ (từ ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo chấp hành thời gian cải tạo còn lại là 26 tháng 21 ngày. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Hải N cho UBND xã Chí Đám, huyện Đ, tỉnh P giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Chí Đám trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hải N.

Buộc bị cáo Nguyễn Hải N phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế L phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L 03 (Ba) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ (từ ngày 19/9/2022 đến ngày 22/9/2022). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[3] Về án phí: Áp dụng điểm a,h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hải N, bị cáo Nguyễn Thế L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ