vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Trịnh Thành L.

Anh Trịnh Thành L ly hôn chị Nguyễn Thị H. 2, Về con chung: Anh Trịnh Thành L và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Trịnh Ngọc Mỹ Anh, sinh ngày 23/05/2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Trịnh Thành L.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 34 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2023

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Sỹ L

2. Bà Dương Thị Diễm

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương-Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 781/TLST- HNGĐ ngày 17/10/2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2022/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST- HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Anh Trịnh Thành L, sinh năm 1992.

HKTT: P13-N2-K14, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Nơi ở: 51 Đ 3, ngõ 685 Lạc L Quân, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Ha Nội.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992.

HKTT: Số 25A Tổ 6 phường Trung H, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Nơi ở: Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

(Anh L và chị H có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2022 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Trịnh Thành L trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội ngày 29/10/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, anh và chị H có xảy ra những mâu thuẫn riêng của hai vợ chồng. Bên cạnh đó, chị H cư xử với gia đình nhà chồng cũng chưa đúng mực và thể hiện sự không tôn trọng gia đình nhà chồng nên xảy ra những bất đồng. Để thuận lợi cho sinh hoạt cũng như tạo điều kiện cho vợ chồng anh có cuộc sống riêng để H hợp nhau hợp, tháng 4/2021 bố mẹ anh mua cho anh căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Sau khi mua căn hộ trên vợ chồng anh về ở. Cuộc sống vợ chồng tại căn nhà mới hạnh phúc được thời gian ngắn thì lại tiếp tục phát sinh các mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách của hai bên không H hợp nhau. Anh và chị H cũng đã rất nhiều lần trao đổi thắng thắn, gia đình hai bên cũng khuyên giải, góp ý nhiều lần nhưng không mang lại kết quả. Vợ chồng anh luôn xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Trong rất nhiều lần mâu thuẫn, chị H cũng nhiều lần bế con đi khỏi nhà. Do mâu thuẫn xảy ra nhiều khiến anh và chị H không thể sống chung cùng nhau, từ tháng 4/2022 anh về nhà ở cùng bố mẹ đẻ tại Lạc L Quân, Tây Hồ, Hà Nội và chị H ở cùng con tại Vinhomes Metropolis.

Trong thời gian ly thân, anh và chị H cũng đã đi đến thống nhất là nộp đơn ly hôn ra Tòa án, chị H cũng nhiều lần giục giã anh về việc giải quyết nhanh việc ly hôn. Tuy nhiên khi anh yêu cầu chị H đưa các giấy tờ chung của hai vợ chồng, thì chị H cố tính chiếm giữ và nhất quyết không đưa, dù anh nhiều lần đề nghị. Ngày 15/8/2022, khi anh về nhà thăm con đồng thời lấy một số giấy tờ cần thiết để bổ sung hồ sơ ly hôn; do anh bị mất chìa khóa tủ tại nhà 29 Liễu Giai vì lâu không dùng, nên anh có gọi thợ khóa đến mở tủ có sự chứng kiến của người giúp việc song khi chị H nhận được tin báo đã mời công an phường Ngọc Khánh tới lập biên bản đối với anh. Anh thiết nghĩ đây là nhà của anh được tạo lập do bố mẹ anh mua cho anh, anh có quyền vào nhà và tiếp cận các giấy tờ là tài sản chung của anh và chị H khi anh và chị H vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân song chị H đã chửi bới, xúc phạm anh và có những lời nói không đúng sự thật về anh khi chị H trình bày với lực lượng công an phường. Vợ chồng anh không còn tình cảm và anh và chị H ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Khi vợ chồng anh có mâu thuẫn bố mẹ anh có H giải cho hai vợ chồng nhưng mâu thuẫn không cải thiện được.

Do vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Trịnh Ngọc Mỹ Anh, sinh ngày 23/5/2021. Con chung còn nhỏ và đang ở với mẹ, anh đồng ý để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và anh đóng góp tiền nuôi con chung 6000.000 đồng/tháng.

Về tài sản và nhà ở chung:

Tài sản sinh hoạt: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nhà ở: Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đứng tên vợ chồng anh là Trịnh Thành L và Nguyễn Thị H. Khi ly hôn anh yêu cầu được hưởng 2/3 giá trị nhà; chị H hưởng 1/3 giá trị nhà.

Ngày 02/12/2022 anh xin rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp – Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Anh xin tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị xác nhận lời trình bày của anh L về thời gian và điều kiện kết hôn là đúng.

Để chuẩn bị sinh con nên tháng 4/2021 bố mẹ chồng chị cho anh chị ra ở riêng. Chị và anh L ở tại căn hộ M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Quá trình chung sống vợ chồng chị chung sống bình thường, thi thoảng xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Chị không biết lý do tại sao anh L xin ly hôn với chị. Sau khi chị biết được việc anh L xin ly hôn, chị có gọi điện nói chuyện với anh L nhưng chưa đưa ra được phương án giải quyết. Việc anh L xin ly hôn bố mẹ chồng chị có biết nhưng bố mẹ đẻ của chị chưa biết. Do chị bận việc nên chị chưa nói với bố mẹ chị biết. Nay chị xác định chị và anh L vẫn còn tình cảm với nhau và có trách nhiệm yêu thương chăm sóc con chung của chị và anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là Trịnh Ngọc Mỹ Anh, sinh ngày 23/05/2021. Hiện tại chị đang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu.

Về tài sản và nhà ở chung: Do chị chưa tính đến chuyện ly hôn nên chị không đề cập đến việc giải quyết tài sản chung.

Về công nợ: Chị và anh L không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

Tại phiên tòa:

Anh L vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với chị H và trình bày:

Về tài sản: Anh xin rút yêu cầu chia tài sản chung là: Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội để tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về con chung: Do con chung còn nhỏ và đang được mẹ chăm sóc, anh đồng ý để chị H nuôi dưỡng con chung. Anh là công chức nhà nước, lương tháng của anh là 9.000.000 đồng nên anh đóng góp cho chị H 6.000.000 đồng/tháng để chị H chăm sóc con chung.

Chị H trình bày:

Vợ chồng chị có mâu thuẫn nhỏ như bao gia đình khác, cuộc sống của vợ chồng không có bạo lực gia đình, không gây ảnh hưởng sức khỏe tính mạng của đối phương cũng như gây hậu quả nghiêm trọng đến xã hội. Mâu thuẫn bình thường này hoàn toàn có thể hàn gắn được, con chị còn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con nên chị không đồng ý ly hôn. Chị đang nuôi con và không yêu cầu anh L đóng góp nuôi con vì anh L nói lương của anh L 9.000.000 đồng/tháng và đóng góp nuôi con 6.000.000 đồng/tháng, trong khi đó hàng tháng chị phải chi phí hết 50.000.000 đồng gồm tiền ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, tiền thuê người giúp việc, tiền phí dịch vụ tòa nhà và các khoản khác, nếu anh L đóng góp 6.000.000 đồng/tháng sẽ là gánh nặng cho anh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua lời khai của đương sự tại phiên tòa hôm nay cho thấy mâu thuẫn vợ chồng anh L và chị H đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L, cho anh L ly hôn chị H.

Do con chung còn nhỏ và đang ở với chị H, anh L đồng ý để chị H chăm sóc con chung và anh đóng góp tiền nuôi dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh L đóng góp tiền nuôi con chung là 6.000.000đ/tháng cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản và nhà ở: Anh L xin rút yêu cầu chia tài sản chung là Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp – Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nên đề nghị hội đồng không xem xét về tài sản chung.

Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí. Hoàn trả lại anh L số tiền 30.000.000 đồng tạm ứng án phí do anh L rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng và xin tự giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Anh Trịnh Thành L và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội ngày 29/10/2018 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh L và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh L ly hôn chị H.

Về con chung: Anh L và chị H có 01 con chung là Trịnh Ngọc Mỹ Anh, sinh ngày 23/05/2021. Con chung còn nhỏ và đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh L đóng góp nuôi con. Anh L đồng ý giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, anh đóng góp nuôi con 6.000.000 đồng/tháng.

Do đó, giao con chung Trịnh Ngọc Mỹ Anh cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L đóng góp nuôi con chung là 6.000.000 đồng/tháng từ tháng 01 năm 2023 cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

Anh L có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản và nhà ở: Anh L xin rút yêu cầu chia tài sản chung là Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp – Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét việc rút yêu cầu này của anh L là tự nguyện, không trái pháp luật nên đình chỉ yêu cầu chia tài sản của anh L đối với chị H.

Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Hoàn trả lại anh L số tiền 30.000.000 đồng tạm ứng án phí chia tài sản theo biên lai thu án phí số 0002521 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Về quyền kháng cáo: Anh L, chị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng các Điều 28; 144; 147; 217; 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Trịnh Thành L.

Anh Trịnh Thành L ly hôn chị Nguyễn Thị H.

2, Về con chung: Anh Trịnh Thành L và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Trịnh Ngọc Mỹ Anh, sinh ngày 23/05/2021.

Giao con chung Trịnh Ngọc Mỹ Anh cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh Trịnh Thành L đóng góp tiền nuôi con chung là 6.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 01 năm 2023 cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Trịnh Thành L có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3, Về tài sản: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Thành L đối với chị Nguyễn Thị H về việc chia tài sản là nhà đất tại Căn hộ số M31511A- Tòa nhà HH1 (M3), Tổ hợp thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp –Vinhomes-Metropolis, số 29 Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

4, Về án phí: Anh Trịnh Thành L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm. Xác nhận đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002521 ngày 17/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Hoàn trả anh Trịnh Thành L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002521 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Anh Trịnh Thành L, chị Nguyễn Thi H có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ