vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đàng Năng Q. Ông Đàng Năng Q được ly hôn với bà Trượng Thị T.

2/. Về con chung: Giao hai con chung Đàng Duy M, sinh ngày 09/12/2006 và Đàng Năng T1, sinh ngày 15/01/2010 cho bà Trượng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đàng Năng Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đàng Năng Q. Ông Đàng Năng Q được ly hôn với bà Trượng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 4 – 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh

2. Bà Lê Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 284/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đàng Năng Q, sinh 1986. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Trượng Thị T, sinh 1986. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/9/2022 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Đàng Năng Q trình bày:

Ông và bà Trượng Thị T tự nguyện tìm hiểu và tiến tới kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 16/4/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 xảy ra cãi vã do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông đi làm ăn xa, bà T có mối quan hệ bất chính với người khác. Kể từ năm 2017 đến nay vợ chồng không còn sống chung, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay tình cảm của ông với bà T không còn, vì vậy ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trượng Thị T.

Về con chung: Vợ chồng có ba người con chung là Đàng Năng G, sinh ngày 16/01/2005 nay đã trên 18 tuổi lao động tự túc; Đàng Duy M, sinh ngày 09/12/2006 và Đàng Năng T1, sinh ngày 15/01/2010. Hiện nay bà T đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu M và T1. Ly hôn ông đồng ý giao cho bà Trượng Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết bị đơn bà Trượng Thị T vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Nên bà T không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Ông Đàng Năng Q và bà Trượng Thị T chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Đàng Năng Q. Về con chung: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, bị đơn vắng mặt không có ý kiến về con chung. Nên giao hai cháu Đàng Duy M và Đàng Năng T1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Đàng Năng Q khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện N xin ly hôn với bà Trượng Thị T, trú tại: thôn C, P, N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện N thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là bà Trượng Thị T. Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên họp, hòa giải đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định của pháp luật.

Nội dung khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đàng Năng Q và bà Trượng Thị T chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 16/4/2009 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bà T bỏ mặc, không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (có xác nhận của chính quyền địa phương). Mặt khác, bà T đã được thông báo và biết được việc khởi kiện cũng như các nội dung yêu cầu của ông Q, nhưng bà T vẫn cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại Tòa án, từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chứng tỏ bà T không quan tâm, không muốn hàn gắn lại tình cảm với ông Q làm cho hôn nhân vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Q đề nghị được ly hôn với bà T là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có ba người con chung là Đàng Năng G, sinh ngày 16/01/2005 (trên 18 tuổi lao động tự túc được); Đàng Duy M, sinh ngày 09/12/2006 và Đàng Năng T1, sinh ngày 15/01/2010. Hiện nay bà T đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu M và T1. Xét nguyện vọng của hai cháu M và T1 xin được tiếp tục sống với mẹ, mặt khác ông Q cũng đồng ý giao hai con chung cho bà T tiếp tục trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, nên giao hai con chung Đàng Duy M, sinh ngày 09/12/2006 và Đàng Năng T1, sinh ngày 15/01/2010 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của ông Q.

Về án Phí: Ông Đàng Năng Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đàng Năng Q. Ông Đàng Năng Q được ly hôn với bà Trượng Thị T.

2/. Về con chung: Giao hai con chung Đàng Duy M, sinh ngày 09/12/2006 và Đàng Năng T1, sinh ngày 15/01/2010 cho bà Trượng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đàng Năng Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đàng Năng Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002679, ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Ông Q đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4/. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2023), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ