vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bùi T được ly hôn với Châu T.

Về con chung: Bùi T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Châu Tuấn Pt, sinh ngày 10/7/2014. Bùi T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Châu T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bùi T được ly hôn với Châu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-4-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Nguyễn Chí Công;

Đặng Thanh Cao.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14/12/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Bùi T - Sinh năm: 1980. Địa chỉ: xã L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: xã Đ, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Châu T - Sinh năm: 1979. Địa chỉ: xã L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Bùi T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh T do mai mốt và quen biết nhau, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng thời gian đầu thì hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải, không cùng tiếng nói anh T không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình mà cờ bạc nợ nần chị T đã nhiều lần khuyên nhưng anh T không thay đổi nên chị T về nhà cha mẹ ruột ở từ khoảng cuối năm 2022 cho đến nay. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh T nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Châu T.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Châu Ngọc M, sinh ngày 06/6/2000; Châu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/4/2003 và Châu Tuấn P, sinh ngày 10/7/2014 chị T yêu cầu nuôi con tên Châu Tuấn P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với Châu Ngọc M; Châu Ngọc Diễm M các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

`- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Châu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã dược thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Chị T và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, không cùng tiếng nói, anh T không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình mà cờ bạc chị T đã nhiều lần khuyên anh T như anh T không thay đổi nên chị T đã về nhà cha mẹ ruột ở từ đầu năm đến nay, tình trạng hôn nhân của chị T và anh T như trên được chứng minh bằng hành động cụ thể là anh T không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặt không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật. Mặc dù, Hội đồng xét xử đã động viên nhưng chị T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với anh T, mâu thuẩn của chị T và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được cho nên việc chị T yêu cầu ly hôn là thỏa mãn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ.

[2] Về con chung: Chị T và anh T có 03 con chung tên Châu Ngọc M, sinh ngày 06/6/2000; Châu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/4/2003 và Châu Tuấn P, sinh ngày 10/7/2014, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con tên Châu Tuấn Phát, việc giao con cho ai nuôi là xem xét điều kiện để nuôi con, chị T đang trực tiếp nuôi dạy con tốt, có đủ điều kiện nuôi con, đồng thời cháu P cũng có nguyện vọng sống với mẹ, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với Châu Ngọc M; Châu Ngọc Diễm M đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với Châu T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử nên xét xử vắng mặt đối với Châu T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Bùi T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bùi T được ly hôn với Châu T.

2. Về con chung: Bùi T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Châu Tuấn Pt, sinh ngày 10/7/2014.

Bùi T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Châu T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn.

3. Về án phí và tạm ứng án phí: Bùi T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà Bùi T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0015568, ngày 12/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Bùi T đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2023). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ