- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Sau Va Ry - Lâm Sơn Đăng"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lâm Thị Sau Va R và anh Lâm Sơn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HNGĐ -ST Ngày: 20/3/2023 (V/v Tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh và bà Đỗ Kim Phụng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 611/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Sau Va R, sinh năm 1997
Địa chỉ: ấp Thạnh Tr, xã Long Đ, huyện Đông Hai, tỉnh Bạc Liêu
2/. Bị đơn: Anh Lâm Sơn Đ, sinh năm 1994
Địa chỉ: ấp Thạnh Trị, xã Long Điền, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị R và anh Đ có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2022, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Lâm Thị Sau Va R và anh Lâm Sơn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau vào năm 2016 hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Đ, huyện Đ H ngày 03/02/2017 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn theo chị R xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh Đ thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn, chị đã khuyên ngăn rất nhiều lần nhưng anh Đ không sửa đổi, gia đình 2 bên có khuyên bảo nhưng anh Đ không lắng nghe từ đó khiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay chị xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, cũng không còn khả năng hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lâm Sơn Đ.
Theo anh Đ xác định vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị R yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Chị R và anh Đ thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Lâm Hoàng Lâm, sinh ngày 22/5/2017, hiện nay đang sống chung với chị R. Khi ly chị R và anh Đ thỏa thuận giao con chung cho chị R nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị R và anh Đ không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị R và anh Đ thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chị R và anh Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Chị R và anh Đ xác định vợ chồng không hàn gắn được và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên thống nhất ly hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị R và anh Đ.
Về con chung: Chị R và anh Đ thống nhất thỏa thuận giao con chung tên Lâm Hoàng L, sinh ngày 22/5/2017 cho chị R nuôi dưỡng đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Về cấp dưỡng: Chị R và anh Đ không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị R và anh Đ thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình: Chị R phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lâm Thị Sau Va R có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Lâm Sơn Đ. Anh Đ có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị R và anh Đ có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Chị R và anh Đ chung sống với nhau vào năm 2016, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã Long Điền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị R đối với anh Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Nhưng trong thời gian chung sống chị R và anh Đ xãy ra mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hành phúc, hiện nay anh chị không còn quan tâm nhau cũng không có biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên chị R yêu cầu ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị R và anh Đ thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Lâm Hoàng L, sinh ngày 22/5/2017, hiện nay đang sống với chị R. Khi ly hôn chị R và anh Đ thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị R nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận và giao cháu L cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Chị R và anh Đ không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị R và anh Đ thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị R phải nộp theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lâm Thị Sau Va R và anh Lâm Sơn Đ.
2/. Về con chung: Giao con chung tên Lâm Hoàng L, sinh ngày 22/5/2017 cho chị Lâm Thị Sau Va R tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh Lâm Sơn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4/. Về án phí: Chị Lâm Thị Sau Va R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009689 ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Lâm Thị Sau Va R và anh Lâm Sơn Đ được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ H; - Chi cục THADS huyện Đ H; - UBND xã Long Đ; - Các đương sự; - Lưu; | Thạch Thị Ngọc Bích |