- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TAND THÀNH PHỐ L TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS-ST Ngày 25- 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Liên
Bà Nguyễn Lệ Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Khuất Thị Lan - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Bùi Hiền Lương, Kiểm sát viên.
Ngày 25/5/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2022/HSST ngày 21 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Th; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987 tại tỉnh L. Trú tại: Tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá(học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn Chiêu, sinh năm 1966; Con bà: Đỗ Thị Lanh (đã chết); Họ và tên vợ: Vợ thứ nhất: Hoàng Thị Thanh Thảo, sinh năm 1990 (đã ly hôn). Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Ánh, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bản án số: 50/2009/HSST ngày 16/9/2009 của Tòa án nhân dân thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh L đã xử phạt Nguyễn Văn Th 7 tháng cải tạo không giam giữ về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2022 đến ngày 23/01/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đông P, thành phố L, tỉnh L cho đến nay. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 23 giờ 45 phút, ngày 13/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang Phạm Ngọc T, sinh năm 2000. Trú tại: Khu 10, thị trấn Than U, huyện Than U, tỉnh L đang tàng trữ 12 viên nén hình tròn, màu hồng. Theo T khai đó là ma túy tổng hợp T mua của Nguyễn Văn Th ở tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L với giá 700.000 đồng. Mở rộng điều tra, hồi 07 giờ ngày 14/01/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Th ở địa chỉ trên. Kết quả khám xét, Nguyễn Văn Th tự giác lấy ở khe cửa chính nhà ở của Th 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong có 18 viên nén hình tròn (trong đó có 16 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh) nộp cho tổ công tác. Theo Th khai nhận 18 viên nén hình tròn trên là ma túy, loại hồng phiến, Th tàng trữ để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Th khai nhận: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 13/01/2022, Nguyễn Văn Th nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua giúp tại khu vực ngã ba thuộc bản Chin Chu C, xã S, thành phố L,tỉnh L với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được Th mang về nhà cất giấu trong khe của chính nhà ở của Th để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng. Đối với lời khai của Phạm Ngọc T về việc mua ma túy của Th, Th không thừa nhận.
Các vấn đề khác của vụ án:
Kết luận giám định số: 04/KLGĐ ngày 14/01/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 16 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 1,57gam; 02 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,19 gam. Tổng khối lượng là 1,76 gam.
Kết luận giám định số: 136/GĐ-KTHS ngày 17/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: 02 (hai) mẫu viên nén (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Cáo trạng số: 17/CT-VKSTP ngày 21/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Nguyễn Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước đó. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ một gói niêm P bằng P bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ P bì niêm P trong quá trình khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Th). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, biên bản mở niêm P xác định trọng lượng, kết luận giám định … được xem xét và tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 07 giờ 00 phút, ngày 14/01/2022, tại nhà của mình ở tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L, Nguyễn Văn Th đang tàng trữ trái phép 1,76 gam Methamphetamine ở khe cửa chính, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện, thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp.
Bị cáo Nguyễn Văn Th là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Th có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Tại bản án số: 50/2009/HSST ngày 16/9/2009 của Tòa án nhân dân thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh L đã xử phạt Nguyễn Văn Th 7 tháng cải tạo không giam giữ về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 1,76 gam Methamphetamine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Đối với 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong trong quá trình khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Th là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, theo lời khai của Nguyễn Văn Th, nguồn gốc số ma túy mà bị cáo bị thu giữ là do nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua giúp do đó cơ quan điều tra không xác định được là ai; Theo lời khai của Phạm Ngọc T 12 viên nén hình tròn màu hồng bị thu giữ là do mua của Nguyễn Văn Th, kết quả điều tra Th không thừa nhận bán ma túy cho Phạm Ngọc T, ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.
Đối với hành vi của Phạm Ngọc T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã giải quyết bằng một vụ án khác.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 02 (hai) năm tù. Trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ là 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
3. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong trong quá trình khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Th.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2022 giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; -VKSND tỉnh L; - Công an TP L; - VKSND TP L; - Chi cục THADS TP L; - Sở tư pháp tỉnh L; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tòng Thị Tuyết |