- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn C- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS-ST Ngày: 26 - 5 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Đức Cường và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:
- Ngô Văn C - sinh năm 1980; nơi cư trú: thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 22/02/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố PL, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2020; tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/9/2004, bị Công an thị xã PL, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 đến ngày 24/02/2022 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: ông Lại TN; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 14/02/2022, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn DX, xã TH, huyện TL; tổ tuần tra, kiểm soát của Công an xã TH phát hiện đối tượng Ngô Văn C (là đối tượng nghiện ma túy) - sinh năm 1980, trú tại: thôn MC, xã TH có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi áo khoác bên trái C đang mặc có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên dạng nén màu hồng (C khai là ma túy dạng ngựa). Tổ công tác tiến hành đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở UBND xã TH, mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL giải quyết theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: thu giữ trong túi áo khoác ngoài bên trái của Ngô Văn C đang mặc 01 túi nilon màu trắng có mép kẹp viền màu đỏ, bên trong túi nilon này có 02 viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy), được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn C, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn C khai nhận:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/02/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Ngô Văn C đi bộ từ nhà tại thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam lên khu vực tổ dân phố Bảo Lộc, phường Thanh Châu, thành phố PL, tỉnh Hà Nam để tìm mua ma túy. Tại đây, C gặp một người thanh niên (C không biết tên, tuổi, địa chỉ, chỉ nhớ người cao, gầy, đen), C lại gần và hỏi người này: “anh có ma túy ngựa không?” - ý C muốn hỏi mua ma túy của người này, thì người này đáp lại: “có”. Hiểu ý người này có ma túy để bán, nên C bảo: “để cho em ba trăm”, rồi lấy 300.000 đồng đưa cho người này; người thanh niên cầm tiền và đưa lại cho C 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 viên nén màu hồng. C cầm túi nilon biết là ma túy cần mua, nên cất vào trong túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc, rồi đi bộ ra khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thôn DX, xã TH, huyện TL với mục đích để sử dụng ma túy, thì bị lực lượng Công an xã TH phát hiện, kiểm tra bắt quả tang.
Cơ quan điều tra đã ra quyết Đ trưng cầu giám Đ mẫu vật đã thu giữ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01. Tại bản Kết luận giám Đ số 37/KL-PC09-HH ngày 21/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám Đ là ma túy, có khối lượng 0,201g (không phẩy hai trăm linh một gam) loại: Methamphetamine”.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTL ngày 29/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Ngô Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy Đ tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Ngô Văn C từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám Đ.
- Bị cáo Ngô Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết Đ tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy Đ của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết Đ của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết Đ tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám Đ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 23 giờ 00 phút ngày 14/02/2022, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn DX, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; Ngô Văn C đang tàng trữ trái phép 0,201g (không phẩy hai trăm linh một gam) ma túy loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã TH, huyện TL phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine của Ngô Văn C là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Hội đồng xét xử kết luận: Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy Đ tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy Đ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng C và Huân chương C sĩ giải phóng; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy Đ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo “đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy Đ tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn Đ, hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy hoàn trả sau giám Đ, là chất cấm tàng trữ, lưu hành; nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác: về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và người bán ma túy cho Ngô Văn C: quá trình điều tra, C khai nhận không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ của người nam thanh niên bán ma túy cho C. Ngoài lời khai của C thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác Đ nguồn gốc số ma túy và đối tượng bán ma túy cho C.
[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy Đ của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (15/02/2022).
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám Đ trong 01 (một) phong bì niêm phong số 37/PC09-HH mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả QT01” (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/5/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL).
3. Án phí: bị cáo Ngô Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy Đ tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện TL; - Công an huyện TL; - Chi cục THA DS huyện TL; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đức Cường Nguyễn Thị Mai | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Xuân Cảnh |