vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A L 06 (sáu) năm tù, kể từ ngày bắt: 23/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2022/HS-ST
Ngày 23 - 02 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Chử Dung và ông Chảo Phù Hiển.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điên Biên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Mùa A L, sinh năm 1970 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản Tn, xã NB, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mùa Bìa P (đã chết) và con bà: Hờ Thị D, sinh năm 1949; Bị cáo có vợ là Giàng Thị K, sinh năm 1974 và 04 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2021 tại Công an huyện NP cho tới nay, bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 13/11/2021, Mùa A L đi bộ từ nhà ở nhà tại bản Tn, xã NB, huyện NP đến khu vực bản Púng Pá Kha, xã NB, huyện NP với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi Mùa A L gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ đang đứng ở ven đường vào bản. Qua trao đổi Mùa A L đã mua được của người đàn ông đó một gói Heroine được gói bên ngoài bằng ni lông màu trắng và 50 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng ni lông màu xanh với giá 2.000.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu, làm gì L không biết. Còn L cất giấu số Heroine và Methamphetamine vừa mua được vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà L để nguyên gói ma túy ở trong túi áo và cởi áo để ở cuối giường ngủ của L. Hàng ngày L đều lấy Heroine và Methamphetamine ra để sử dụng. Hồi 08 giờ ngày 23/11/2021 Mùa A L đang ngồi cạnh bếp La trong nhà thì tổ công tác Đồn biên phòng NB, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an huyện NP làm nhiệm vụ tại bản Tn, xã NB, huyện NP vào nhà Mùa A L kiểm tra và yêu cầu Mùa A L có đồ vật, tài liệu liên quan đến việc vi phạm pháp luật về ma túy thì tự giác giao nộp, sau đó Mùa A L đã vào buồng ngủ lấy gói Heroine được gói bằng ni lông màu trắng và 40 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng ni lông màu xanh miệng túi có nẹp bấm ra giao giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án.

Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng ma túy và lấy mẫu giám định ngày 24/11/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định vật chứng chất bột dạng nén màu trắng nghi Heroine của Mùa A L có khối lượng là 4,48 gam. 40 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp của Mùa A L có khối lượng là 3,67 gam.

Kết luận giám định số: 1298/GĐ-PC09 ngày 03/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A L gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.

- Mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A L gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 05/CT-VKSNP ngày 30/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố bị can Mùa A L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Mùa A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A L mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 4,34 gam Heroine và 3,21 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu gửi giám định). Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện NP và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 08 giờ ngày 23/11/2021, Mùa A L đang có hành vi tàng trữ 4,48 gam Heroine và 3,67 gam Methamphetamine tại nhà để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn biên phòng NB Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an huyện NP làm nhiệm vụ tại bản Tn bắt quả tang tại nhà. Mùa A L khai nhận số ma túy bị thu giữ do Mùa A L mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Púng Pá Kha, xã NB, huyện NP với giá 2.000.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 24/11/2021; Kết luận giám định số: 1298/GĐ-PC09 ngày 03/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Bị cáo Mùa A L đã có hành vi tàng trữ 02 chất ma túy với tổng khối lượng 8,15 gam để sử dụng cho bản thân. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Mùa A L đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Mùa A L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về nhân thân: Bị cáo Mùa A L chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân Mùa A L từ nhỏ không được đi học, do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên bản thân bị cáo đã nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùa A L đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Xét đề nghị và luận tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo Mùa A L có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Mùa A L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Mùa A L khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại đến nhà bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Mùa A L.

Về vật chứng vụ án: Gồm 4,34 gam Heroine và 3,21 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu gửi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu để tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. thấy gia đình bị cáo Mùa A L là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của Chính phủ.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Mùa A L 06 (sáu) năm tù, kể từ ngày bắt: 23/11/2021.

[3] Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 4,34 gam Heroine và 3,21 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu gửi giám định) cùng phần giấy nilon màu trắng, phần giấy nilon màu xanh và phong bì niêm phong cũ của Đồn biên phòng NB, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo Mùa A L được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ