- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc D và đồng phạm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS-ST Ngày: 05/8/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Nguyễn Tiến Tịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 05/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 06/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HS ngày 15/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2022/HSST-QĐ ngày 26/7/2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm Ngọc D, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Văn Tr, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn áp dụng: bị bắt tạm giam từ 27/4/2022, đến 02/6/2022 áp dụng Biện pháp Bảo lĩnh, từ ngày 08/6/2022 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
2. Nguyễn Vũ Hồng Kh, sinh năm 1990, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Đức S, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1959; cùng địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường Bình T, thị xã Buôn H, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ là Thị L, sinh năm 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; trú tại: Thôn Đắc Th, xã Đắk L, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn áp dụng: bị bắt tạm giam từ 04/5/2022, đến 02/6/2022 áp dụng Biện pháp Bảo lĩnh, từ ngày 08/6/2022 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
3. Nguyễn Duy K, sinh năm 1997, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn Đức Ngh, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1968 và con bà Lê Thị T (đã chết); địa chỉ: Thôn Đức Ngh, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn áp dụng: Bị bắt tạm giam từ 27/4/2022, đến 02/6/2022 áp dụng Biện pháp Bảo lĩnh, từ ngày 08/6/2022 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Xuân H, sinh năm 2000 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Kiều Thanh Nh, sinh năm 2004 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức A, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Anh Nguyễn Trần Quang Q, sinh năm 2004 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức A, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Anh Cao Thành S, sinh năm 1997 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức Ph, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Anh Hồ Sỹ Th, sinh năm 1993 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Anh Phạm Văn M, sinh năm 1987 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1991 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức H, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Người làm chứng: Anh Phạm Quốc N, sinh năm 2001 - Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 05/12/2021, tại quán xiên nướng Quốc Đạt thuộc thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, do mâu thuẫn cá nhân trong lúc ăn, uống, Phạm Xuân H, Kiều Thanh Nh, Nguyễn Trần Quang Q và Cao Thành S đã dùng chân, tay, dao, đánh, chém Hồ Sỹ Th và Phạm Văn M gây thương tích, quá trình xô xát đánh nhau thì Cao Thành S cũng bị thương tích.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Hồ Sỹ Th, Phạm Văn M được Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh và Phạm Quốc N dùng xe ô tô bán tải, màu đỏ, biển kiểm soát 43C-199.13 (xe mượn của chị Nguyễn Thị X) chở đến Trung tâm y tế huyện Đắk Mil cấp cứu, còn Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48E1-358.53 đi theo sau. Tại Trung tâm y tế huyện Đắk Mil, D đưa Th, M vào cấp cứu, còn Kh điều khiển xe ô tô chở N đi ra khu vực trước cổng Trung tâm y tế đứng đợi.
Khi D đi bộ ra sân Trung tâm y tế thì gặp Phạm Xuân H nên D dùng tay trái túm vào cổ áo của H kéo H đến chỗ Kh, K, N thì Kh mở cửa xe ô tô để D đẩy H lên xe mục đích để chở đi nơi khác đánh trả thù, H kháng cự lại nên Kh túm cổ áo rồi cùng D kéo H lên xe nhưng không được. D dùng tay, chân, Kh dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào mặt và người H, thấy vậy, N vào can ngăn nhưng không được. K tiếp tục dùng tay nhấn mạnh hai cái vào đầu H làm mặt của H đập vào thùng xe ô tô. Thấy H không còn kháng cự được, D đẩy H lên thùng xe ô tô rồi lên ngồi giữ H lại, Kh điều khiển xe ô tô chở H, D và N đi về hướng Trung tâm thị trấn Đắk Mil, còn K điều khiển xe mô tô đi về. Khi chở H đến trước cổng quán Internet M79 trên đường Hùng Vương thuộc tổ dân phố 7, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, Kh dừng xe lại và nói D cho H xuống xe. Sau đó, Kh điều khiển xe chở D, N đi về.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 116/TgT, ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: Phạm Xuân H bị gãy xương chính mũi, sưng nề, bầm tím vùng mũi, má hiện tại đã hết, không có sẹo, tỷ lệ % tổn thương cơ thể hiện tại là 08%. Tổn thương do bị vật tày tác động gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 117/TgT, ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: Cao Thành S bị 01 sẹo phần mềm mặt ngoài cổ tay trái, đứt gân duỗi ngắn ngón I tay trái đã khâu, nối gân hiện tại vận động ngón I bàn tay trái bình thường, tỷ lệ % tổn thương cơ thể hiện tại là 02%. Tổn thương cổ tay trái do bị vật sắc tác động gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 118/TgT, ngày 03/3/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: Phạm Văn M bị 01 sẹo phần mềm vùng chẩm, 01 sẹo phần mềm mặt trước cổ tay trái, 01 sẹo phần mềm mặt trong ngón 5 bàn tay phải, đứt bán phần gân gấp cổ tay quay tay trái đã khâu nối gân, tỷ lệ % tổn thương cơ thể hiện tại là 04%. Các tổn thương do bị vật sắc tác động gây nên.
Ngày 30/5/2022, Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông có Công văn số 24/CV-TTPY về việc từ chối giám định đối với Hồ Sỹ Th, lý do: Hồ Sỹ Th không có mặt nên không giám định được.
Cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm vào tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố và thừa nhận là đúng người, đúng tội và không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Phạm Ngọc D và Nguyễn Vũ Hồng Kh từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh và Nguyễn Duy K về cho Ủy ban nhân dân xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nơi các bị cáo cư trú và gia đình phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải tiếp tục bồi thường.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã thu giữ sau đó ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 cây cơ bida làm bằng gỗ, dài 1,57m, đường kính đầu nhỏ nhất là 01cm, đường kính đầu lớn nhất là 03cm; 01 cây cơ bida làm bằng gỗ bị gãy dài 88cm cho anh Hoàng Xuân Thạch là chủ sở hữu hợp pháp
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của các bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh và Nguyễn Duy K tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/12/2021, tại Trung tâm y tế huyện Đắk Mil thuộc thôn Thuận Sơn, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, do có mâu thuẫn từ trước nên Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh, Nguyễn Duy K đã có hành vi dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh anh Phạm Xuân H để không chế, bắt anh Phạm Xuân H lên xe ô tô biển kiểm soát 43C – 199.13 để đưa đi nơi khác đánh trả thù. Sau khi khống chế được anh Phạm Xuân H lên xe ô tô thì Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô bỏ về còn Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh chở anh Phạm Xuân H đi đến tổ dân phố 7, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông trái ý muốn của anh Phạm Xuân H. Như vậy, với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm vào tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
....”
. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ và quyền tự do dân chủ của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo biết rằng pháp luật nghiêm cấm và trừng trị mọi hành vi xâm phạm đến thân thể, sức khỏe và quyền tự do dân chủ của người khác. Nhưng với bản tính hung hăng, mặc dù biết mình là người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt, giữ anh Phạm Xuân H lên xe chở đi nơi khác để đánh trả thù, vì lý do xích mích nhỏ trong đời sống.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: không.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.
6 . Về tính chất, mức độ và vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, có nhiều bị cáo tham gia, nên cần có sự phân hóa để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp. Đối với Phạm Ngọc D và Nguyễn Vũ Hồng Kh có vai trò chính trong việc bắt, giữ đối với anh H (cụ thể, D dùng tay túm cổ áo kéo anh H đến chỗ Kh, còn Kh mở cửa xe ô tô để D đẩy anh H lên xe, khi anh H kháng cự thì cả D và Kh dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh anh H để khống chế anh H); còn Nguyễn Duy K đã dùng tay nhấn mạnh hai cái vào đầu của anh H, làm mặt anh H đạp vào thùng xe, nhưng vai trò của K hạn chế hơn so với các bị cáo khác trong vụ án. Do đó, cần xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D và Nguyễn Vũ Hồng Kh mức hình phạt cao hơn Nguyễn Duy K.
Như vậy, các bị cáo cùng có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đều có nơi cư trú r ràng. Theo hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trực tiếp giám sát, giáo dục là đủ, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành công dân tốt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật của Nhà nước ta.
. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải tiếp tục bồi thường.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã thu giữ, sau đó ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 cây cơ bida làm bằng gỗ dài 1,57m; đường kính đầu nhỏ nhất là 01cm, đường kính đầu lớn nhất là 03cm; 01 cây cơ bida làm bằng gỗ bị gãy dài 88cm cho anh Hoàng Xuân Thạch là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của Cao Thành S, Phạm Xuân H, Kiều Thanh Nh và Nguyễn Trần Quang Q (đánh anh Phạm Văn M gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 4%), do anh Phạm Văn M có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Công an huyện Đắk Mil ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với Cao Thành S bị đánh gây thương tích 02 %, quá trình điều tra chưa chứng minh được ai là người gây nên, tuy nhiên Cao Thành S có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Đối với Hồ Sỹ Th, sau khi vụ việc xảy ra đã đi khỏi địa phương nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể do hành vi của Cao Thành S, Phạm Xuân H, Kiều Thanh Nh và Nguyễn Trần Quang Q gây nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đang tiếp tục xác minh làm r , khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi đánh anh Phạm Xuân H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08% của Nguyễn Vũ Hồng Kh, Phạm Ngọc D và Nguyễn Duy K, do anh Phạm Xuân H không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Công an huyện Đắk Mil đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối 01 con dao (theo lời khai dài 50cm, lưỡi bằng kim loại rộng 04cm, cán bằng gỗ) và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã áp dụng các biện pháp truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Đối với Phạm Quốc N, quá trình điều tra chứng minh hành vi của N không đồng phạm với Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh và Nguyễn Duy K nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị X, do không biết các bị can dùng xe ô tô biển kiểm soát 43C-199.13 của mình làm phương tiện phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/8/2022.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Hồng Kh 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/8/2022. Giao các bị cáo Phạm Ngọc D và Nguyễn Vũ Hồng Kh về cho Ủy ban nhân dân xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nơi các bị cáo cư trú và gia đình phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/8/2022. Giao bị cáo Nguyễn Duy K về cho Ủy ban nhân dân xã Đức M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú và gia đình phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã thu giữ, sau đó ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 cây cơ bida làm bằng gỗ dài 1,57m; đường kính đầu nhỏ nhất là 01cm, đường kính đầu lớn nhất là 03cm; 01 cây cơ bida làm bằng gỗ bị gãy dài 88cm cho anh Hoàng Xuân Thạch là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Phạm Ngọc D, Nguyễn Vũ Hồng Kh và Nguyễn Duy K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Đắk Mil; - Cơ quan THAHS-CA huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện Đắk Mil; - Bị cáo, bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Trƣơng Ngọc Thanh |