- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS-ST Ngày 11-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Công Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phương Anh Tư.
Bà Dương Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/TLST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Thị N, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1983, tại Huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Ngô Thị N; có chồng: Đỗ Văn D; con: Có 02 con; tiền án; tiền sự: Không có; về nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị bắt tạm giữ ngày 02/3/2022, tạm giam ngày 08/3/2022 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 20 phút ngày 02/3/2022 tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở thị trấn Bắc Sơn thuộc khối phố Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Công an thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Trần Thị N, sinh năm 1983, trú tại khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen- trắng, biển kiểm soát 12S1-181.42, trên xe có chở 02 (hai) bọc nilon màu đen, bên trong có chứa 02 (hai) bó thực vật tươi có đủ rễ, thân, lá, quả có chiều dài trung bình 1,2 m (nghi là cây thuốc phiện). Công an thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng là các bó cây thực vật trên đồng thời đưa người cùng tang vật về trụ sở Công an huyện Bắc Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra làm rõ, do có nhu cầu tìm mua cây thuốc phiện về ngâm rượu làm thuốc chữa bệnh cho gia cầm nên sáng ngày 01/3/2022 Trần Thị N ra khu vực bán gà ở chợ Bắc Sơn, thị trấn Bắc Sơn gặp và hỏi một người phụ nữ không quen biết bán gà là có biết ai bán cây thuốc phiện không thì người phụ nữ này trả lời là có bán cây thuốc phiện. Trần Thị N nói muốn mua 30kg (ba mươi ki lô gam), cả hai thỏa thuận thống nhất giá mỗi một ki lô gam cây thuốc phiện là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và hẹn khoảng 19 giờ ngày 02/3/2022 sẽ gặp nhau để mua bán cây thuốc phiện tại khu vực đường rẽ lên núi N thuộc xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Theo như thỏa thuận khoảng 19 giờ ngày 2/3/2022 Trần Thị N một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen-trắng, biển kiểm soát 12S1-181.42 đi từ nhà đến địa điểm đã hẹn để mua cây thuốc phiện. Khi đến nơi, gặp người phụ nữ hôm trước, người này lấy cho N 02 (hai) bó cây thuốc phiện được bọc bằng túi nilon màu đen, Trần Thị N trả cho người này 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Sau khi mua được cây thuốc phiện Trần Thị N điều khiển xe mô tô chở theo số cây thuốc phiện đi về nhà. Trên đường đi về đến khu vực cổng trường Trung học cơ sở thị trấn Bắc Sơn thuộc khối phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như trên.
Ngày 04/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng là cây, quả nghi là cây thuốc phiện bị thu giữ.
Tại Bản kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 05/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:
“02 (hai) bó cây gồm: rễ, thân, lá, quả tươi có chiều dài khoảng 1,2m gửi giám định đều là cây thuốc phiện, có tổng khối lượng 33,5kg. Trong đó: Phần quả đều là quả tươi, có tổng khối lượng là 6,0 kg; Phần rễ, thân, lá còn lại có tổng khối lượng là 27,5 kg.
Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSBS-HS, ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Thị N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen- trắng, biển kiểm soát: 12S1- 181.42, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000679, mang tên Trần Thị N.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 02/3/2022, Trần Thị N, sinh năm 1983, trú tại khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có hành vi mua 02 (hai) bó cây thực vật (là cây thuốc phiện) với một người phụ nữ không quen biết tại khu vực đường lên núi N thuộc xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, mục đích mua về để ngâm rượu chữa bệnh cho gia cầm. Qua giám định các bó cây thực vật trên là cây thuốc phiện, có tổng khối lượng 33,5kg (ba mươi ba phẩy năm ki lô gam), trong đó phần quả đều là quả tươi, có tổng khối lượng là 6,0 kg (sáu ki lô gam). Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Cáo trạng số 31/CT-VKSBS ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy quả thuốc phiện, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hiểu được tác hại của ma túy đối với con người, cộng đồng và xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy quả thuốc phiện là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm pháp luật nên cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự.
[5] Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có bố là ông Trần Văn N (Trần Đức N) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm tính giáo dục và có tính răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Bị cáo mua cây, quả thuốc phiện với mục đích để ngâm rượu làm thuốc chữa bệnh cho gia súc, gia cầm. Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự, nhưng cũng xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và hối hận về hành vi phạm tội của mình nên cũng xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt trở thành người có ích cho xã hội. Qua xác minh bị cáo, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
[9] Đối với người phụ nữ đã bán trái phép cây quả thuốc phiện cho bị cáo, do bị cáo chỉ biết người phụ nữ này cao khoảng 1,5m, dáng người thấp béo, khi gặp nhau người này đeo khẩu trang, không rõ họ tên, người này chỉ nói với bị cáo là ở xã Hưng Vũ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[10] Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen- trắng, biển kiểm soát: 12S1- 181.42, xe cũ đã qua sử dụng. Đây là xe của bị cáo Trần Thị N, bị cáo N đã sử dụng xe làm phương tiện để vận chuyển số cây quả thuốc phiện nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000679, mang tên Trần Thị N là giấy đăng ký xe của bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với các vật chứng là cây quả thuốc phiện gồm: 02 (hai) bó cây thuốc phiện (gồm: rễ, thân, lá không còn nguyên vẹn, có khối lượng 20,2kg), (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 (một) túi nilon màu đen bên trong có chứa 5,10 kg quả thuốc phiện đều được niêm phong lại bằng các vỏ túi nilon, dán ngoài bằng giấy trắng và băng dính; có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định viên và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại phần giáp lai mới. Do là vật chứng thuộc loại mau hỏng nên ngày 10/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tiêu hủy (chôn lấp đất), cùng ngày đã tiến hành tiêu hủy số vật chứng là cây quả thuốc phiện trên.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 02 tháng 3 năm 2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen- trắng, biển kiểm soát: 12S1- 181.42, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000679, mang tên Trần Thị N.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn; - Công an huyện Bắc Sơn; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Đức |