vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 01/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”; 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày 01 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thiện Hoàn;

2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An

Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Ông

Chau San - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn

AP, huyện AP, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự

thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022, đối với bị

cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; nơi sinh: Thành phố CĐ, tỉnh An Giang;

nơi cư trú: Tổ 03, khóm CL4, phường CPB, thành phố CĐ, tỉnh An Giang; Chỗ

ở hiện nay: Số nhà 159/18, khóm 3, phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh An

Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã

chết) và bà Nguyễn Thị Thanh N1 (đã chết); anh, chị, em ruột có 02 người, bị

cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/5/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 10

năm tù về tội “Giết người”. Ngày 05/10/2017, chấp hành xong.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt

tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số nhà 159/18, khóm 3, phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Hồ Văn P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khóm XH, thị trấn TB,

huyện TB, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Khóm 3, phường

CPA, thành phố CĐ, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp PQ, xã PA,

huyện PT, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp PT, xã ĐP, huyện

AP, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp PQ, xã ĐP, huyện

AP, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 15/12/2021, Đội CSĐTTP về Kinh tế - Ma

túy, Công an huyện AP phối hợp cùng Công an xã ĐP tuần tra đảm bảo ANTT trên địa bàn. Khi đến khu vực thuộc ấp PT, xã ĐP lực lượng phát hiện Nguyễn Văn H đang điều khiển xe môtô Wave màu xanh, biển số 67N8 - 9893 hướng từ ấp PT, xã ĐP đến thành phố CĐ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác dừng phương tiện lại kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng phát hiện trên tay phải của H có cầm 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; tiếp tục kiểm tra túi quần trước phía bên trái của H đang mặc lực lượng phát hiện 01 (một) cây kéo bằng kim loại và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO R1011, màu xanh. Nên lực lượng tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với H cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giò 30 phút ngày 15/12/2021,

Nguyễn Văn H điều khiển xe môtô Wave màu xanh, biển số 67N8 – 9893 từ thành phố CĐ, tỉnh An Giang đến ấp PT, xã ĐP để gặp người thanh niên tên An (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để mua ma túy. Do có liên hệ với A trước đó, nên khi đến bến phà CT cũ thuộc ấp PT, xã ĐP, huyện AP, tỉnh An Giang thì thấy A đứng đợi. H dừng xe lại thì An giao 01 (một) bọc ma túy cho H và cất bọc ma túy vào túi quần phía trước bên phải, rồi trả tiền cho An 1.500.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe về thành phố CĐ khi đến khu vực gần ngã tư cầu CT thuộc ấp PT, xã ĐP thì bị lực lượng dừng phương tiện lại kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. H khai nhận bọc ma túy trên mua của người thanh niên tên A (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.500.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Căn cứ kết luận giám định số: 314/KLGT - PC09(MT) ngày 23/12/2021

của Phòng Kỳ thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong

có chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H là ma túy, loại

Methamphetamine, khối lượng l,1067g (một phẩy một không sáu bảy gam).

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) phong bì được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan

Cảnh sát điều tra - Công an huyện AP và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Đăng K, Lê

Thị D mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng: 1,0792 gam (một phẩy

không bảy chín hai gam), loại Methamphetamine.

- 01 (một) điện thoại di động OPPO R1011, màu xanh đã qua sử dụng.

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số 67N8-9893 đã qua sử dụng.

Ngày 15/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện AP ban

hành Quyết định tạm giữ đối với Nguyễn Văn H. Ngày 24/12/2021, Cơ quan

Cảnh sát điều tra – Công an huyện AP ban hành Quyết định khởi tố vụ án, Quyết

định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn H về hành vi “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”.

Tại Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSAP ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện AP truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến với nội dung Cáo trạng và khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có

ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và mong muốn Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Xác định hành vi của

bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi,

bổ sung năm 2017). Vì vậy, khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ,

đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật nên vẫn giữ nguyên

quan điểm truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp theo

quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được

sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng.

Từ những phân tích, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1

Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề

nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015

được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong có in dấu

tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện AP và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Đăng K, Lê Thị D mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng: 1,0792 gam (một phẩy không bảy chín hai gam), loại Methamphetamine; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di

động OPPO R1011, màu xanh đã qua sử dụng do là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Đề nghị trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu C: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave,

biển số 67N8-9893 đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với đối tượng tên A mà H khai nhận mua ma túy, do không biết rõ

họ, tên địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện AP sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm

nhẹ hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham

gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiếu đều vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AP, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng này. Xét việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của

Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, Hội

đồng xét xử xem xét hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy định của

pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp

với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời cũng phù hợp với biên

bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của của người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ

sơ vụ án đã được thẩm tra. Qua xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, có đủ

cơ sở xác định bị cáo đã tàng trữ số lượng ma túy loại Methamphetamine, có khối

lượng l,1067g (một phẩy một không sáu bảy gam) theo Kết luận giám định số

229/KLGT-PC09(MT) ngày 16/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh

An Giang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ

hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước

về việc độc quyền cất giữ, vận chuyển, mua bán chất ma tuý nhưng bị cáo vẫn

cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ

trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình

sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cho nên, Cáo trạng của Viện

kiểm sát nhân dân huyện AP truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời

buộc tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng

tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

4 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Tình hình tội phạm ma túy trên cả nước nói chung và trên địa bàn huyện

AP nói riêng đang diễn biến phức tạp và ngày càng gia tăng về số lượng, tinh vi

về cách thức phạm tội. Ma tuý không chỉ tàn phá sức khỏe của người sử dụng

mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh, gia tăng các tệ nạn xã hội và các loại tội

phạm khác. Do đó, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những

gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà nhà nước

và xã hội đang ra sức thực hiện.

[5 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6 Về nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về nhân thân, bị cáo từng bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt

10 năm tù về tội “Giết người”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/10/2017.

Do đó, bị cáo được xem là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại

phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt:

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân

thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như sự cần thiết đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù còn nhằm đảm bảo mục đích cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội về sau.

[9 Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xét không áp dụng hình

phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong có in dấu tròn

màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện AP và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Đăng K, Lê Thị D mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng: 1,0792 gam (một phẩy không bảy chín hai), loại Methamphetamine; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động

OPPO R1011, màu xanh, đã qua sử dụng do đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc với các đối tượng bán ma túy.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu C: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số

67N8-9893, đã qua sử dụng do khi bà C cho bị cáo mượn, bà C không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện AP tiếp tục

xác minh làm rõ người đàn ông tên An bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật.

[12 Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định; người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Thu C, ông Hồ Văn P, ông Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị Tuyết L có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn

chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày

15/12/2021 (ngày mười lăm tháng mười hai năm hai nghìn không hai mươi

mốt).

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung

năm 2017; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong có in dấu tròn

màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện AP và các chữ ký ghi

tên: Nguyễn Đăng K, Lê Thị D mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng:

1,0792 gam (một phẩy không bảy chín hai), loại Methamphetamine; 01 (một)

cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng.

Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động

OPPO R1011, màu xanh, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu C: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số

67N8-9893, đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh

sát điều tra - Công an huyện AP và Chi cục Thi hành án dân sự huyện AP).

3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu C, ông Hồ Văn P, ông

Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị Tuyết L là 15 ngày kể từ ngày bản án được

giao hoặc được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ