- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T và Lê Huy Đ phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS-PT Ngày: 28/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Hưng;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thành Long và ông Nguyễn Duy Phượng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Như Hòa – Thư ký Tòa án nh n d n t nh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh Hưng Yên mở phiên tòa t phúc thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2022/TLPT-HS ngày 15/3/2022, đối với bị cáo Hoàng Văn T và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của Toà án nh n d n huyện Yên Mỹ, t nh Hưng Yên.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Hoàng Văn T, sinh năm 1973, tại huyện Y, t nh Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Y, t nh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Thắng C và bà: Trần Thị Q; có vợ là chị Nguyễn Thị H và 04 con; tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 01/5/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Lê Huy Đ, sinh năm 1982, tại huyện Y, t nh H. Nơi cư trú: Thôn L, xã Liêu Xá, huyện Y, t nh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng: Lê Huy B (đã chết) và bà Lưu Thị P; có vợ là chị Lê Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 01/5/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Huy Đ: Luật sư Nguyễn Đức T, C ng ty Luật TNHH G và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có đơn in t vắng mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Duy D kh ng kháng cáo, kh ng bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự cố ý g y thương tích ảy ra ngày 20/01/2021 tại th n Liêu Trung, ã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, Cơ quan điều tra C ng an huyện Yên Mỹ đã phát hiện Hoàng Văn T, Lê Huy Đ và Nguyễn Duy D (D là bị hại trong vụ án Cố ý g y thương tích) có hành vi đánh bạc trái ph p dưới hình thức mua bán số l , số đề qua điện thoại di động. Cụ thể:
1. Cách thức chơi đánh bạc trái ph p:
Trước giờ quay kết quả ổ số kiến thiết Miền Bắc vào khoảng 18h hàng ngày, Đ, D nhắn tin bằng điện thoại di động cho T mua các số l , số đề. Khi nhận được tin nhắn trên thì T nhắn tin lại để ác nhận việc mua bán thành c ng. Sau khi có kết quả ổ số kiến thiết Miền Bắc, hai bên mua bán nhắn tin cho nhau để cùng ác nhận số tiền mua số l , số đề, số tiền thắng, đối trừ tiền mua – tiền thắng và ác nhận tổng số tiền đánh bạc chưa được thanh toán từ những lần trước đến ngày h m đó. T triết khấu 20% hoa hồng, ch tính 80%/tổng số tiền cho người mua số đề.
Số l là 02 số cuối của tất cả các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải 7, số đề là 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả ổ số kiến thiết Miền Bắc. Người trúng l , trúng đề khi con số mua trùng với 2 số cuối của kết quả ổ số kiến thiết Miền Bắc. T bán, một điểm l với giá 22.500 đồng, nếu kết quả ổ số có 01 số l trùng với số đã mua thì người mua thắng được 80.000 đồng/1 điểm, nếu có n số trùng thì người mua thắng được 80.000 đồng n; nếu trúng đề thì được số tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra mua số đề đó. Nếu kh ng mua trúng số l , số đề thì người mua mất cho người bán số tiền bỏ ra mua.
2. Việc mua bán số l , số đề giữa Hoàng Văn T và Lê Huy Đ:
- Lần 1: Ngày 21/3/2021, Đ nhắn tin từ số điện thoại 0965.379.668 của Đ đến số 0936.621.095 của T mua các số l : 03, 69, 79, 97, 00, 33, 83, 65, mỗi số 300 điểm, với số tiền là: 54.000.000 đồng. Đ trúng các số 03, 33, 65, mỗi số 300 điểm, thắng được số tiền là: 72.000.000 đồng.
Cũng trong ngày 21/3/2021, Đ còn mua thêm số l , số đề của T và thắng được thêm số tiền 18.000.000 đồng. Do tin nhắn có nội dung mua bán số l , số đề kh ng còn lưu trong các điện thoại nên kh ng ác định được mua bán con số nào, với giá bao nhiêu.
- Lần 2: Ngày 22/3/2021, Đ nhắn tin từ số điện thoại 0968.236.336 của Đ đến số 0936.621.095 của T mua các số l : 09, 90, 83, 36, 63, 85, 04, 40, mỗi số 200 điểm, với số tiền là 36.000.000 đồng và các số đề: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96, mỗi số 500.000 đồng, với số tiền là 10.000.000 đồng (trừ 20% tiền hoa hồng còn 8.000.000 đồng). Đ trúng các số l : 09, 36, mỗi số 200 điểm, thắng được số tiền là 32.000.000 đồng.
- Lần 3: Ngày 23/3/2021, Đ nhắn tin từ số điện thoại 0965.379.668 của Đ đến số 0936.621.095 của T mua các số l : 13, 31, 45, 54, 79, 97, 09, 90, 08, 15, mỗi số 200 điểm, với số tiền là 45.000.000 đồng và các số đề: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, mỗi số: 800.000 đồng, với số tiền là 8.000.000 đồng (trừ 20% tiền hoa hồng còn 6.400.000 đồng). Đ trúng số l : 54 (về 02 lần) được 400 điểm, thắng được số tiền là 32.000.000 đồng.
- Lần 4: Ngày 25/3/2021, Đ nhắn tin từ số điện thoại 0968.236.336 của Đ đến số 0936.621.095 của T mua các số l : 54, 45, 96, 79, 97, 56, 65, 64, mỗi số 200 điểm, với số tiền là 36.000.000 đồng. Đ kh ng trúng được số l nào.
Ngoài ra, T và Đ còn khai nhận các lần mua bán số l , số đề khác, nhưng các tin nhắn ghi nhận việc mua bán số l , số đề giữa hai người kh ng còn lưu lại trong các điện thoại, nên kh ng nhớ để giải trình được cụ thể chi tiết từng lần đánh bạc đó. Tính đến ngày ngày 25/3/2021, Đ nợ T tiền mua số l , đề là 329.610.000 đồng. Do Đ nợ nhiều tiền nên những ngày sau đó, T không bán số l , số đề cho Đ nữa.
3. Việc mua bán số l , số đề giữa Hoàng Văn T và Nguyễn Duy D:
- Lần 1: Ngày 17/02/2021, D nhắn tin từ số điện thoại 0869.969.255 của D đến số 0936.621.095 của T mua các số đề: 23, 32, 34, 43, 37, 73, 36, 63, 53, 35, 33, 83, 38, 39, 93, 80, 08, 58, 85, 78, 87, 28, 82, 48, 84, 68, 30, 89, 98, mỗi số giá: 200.000 đồng, với số tiền 5.800.000 đồng. D kh ng trúng số nào.
- Lần 2: Ngày 18/02/2021, D nhắn tin từ số điện thoại 0869.969.255 của D đến số 0936.621.095 của T mua các số đề: 34, 43, 39, 93, 89, 98, 48, 84, 35, 53, 30, 80, 08, 58, 85, 90, 95, 73, 92, 55, 25, 50, mỗi số giá: 200.000 đồng, với số tiền là 4.400.000 đồng. D kh ng trúng số nào.
Ngoài ra, T và D đều thừa nhận trước ngày 17/02/2021 còn mua bán số l , số đề với nhau nhưng các tin nhắn ghi nhận việc mua bán số l , số đề giữa hai người kh ng còn lưu lại trong các điện thoại, nên kh ng nhớ để giải trình được cụ thể chi tiết từng lần đánh bạc đó. T và D ác nhận nợ qua nội dung tin nhắn số tiền mua số đề ngày 17/02/2021 là 4.640.000 đồng, ngày 18/02/2021 là 3.520.000 đồng (sau khi đã trừ 20% hoa hồng/tổng số tiền mua số đề). Tính hết ngày 18/02/2021, D nợ T tiền đánh bạc là: 92.360.000 đồng. Do D nợ nhiều tiền nên T kh ng tiếp tục bán số l , số đề cho D nữa.
4. Một số nội dung khác có liên quan:
- Đối với nội dung D khai còn mua số l , số đề của Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988, ở th n Hào Xuyên, ã T n Lập, huyện Yên Mỹ và T khai sau khi bán số l , số đề cho những người chơi thì cũng chuyển bán lại số l , số đề cho Th, Trương Đăng Toàn, sinh năm 1985 và Đỗ Đình T1, sinh năm 1981 đều ở Thư Thị, ã T n Lập, huyện Yên Mỹ với giá: 21.800 đồng/01 điểm l và 730 đồng/1.000 đồng số đề, để hưởng tiền chênh lệch. Quá trình điều tra, Th khai kh ng có mua bán số l , số đề với T, D; còn T2và Tuấn vắng mặt tại nơi cư trú nên chưa lấy được lời khai. Do hết thời hạn điều tra chưa nhận được kết quả trả lời của các c ng ty viễn th ng về việc cung cấp th ng tin đăng ký thuê bao, lịch s cuộc gọi, tin nhắn từ các số điện thoại do D, T cung cấp đã gọi điện, nhắn tin mua bán số l , số đề với Th, Toàn, Tuấn, vì vậy chưa đủ cơ sở ác định nội dung trên là đúng, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ lý sau.
- Đối với các tin nhắn giữa số điện thoại 0936.621.095 của Hoàng Văn T với các số điện thoại: 0987.307.211 (kh ng lưu tên); 0962.883.452 (lưu tên Tham); 0987.721.736 (lưu tên Thuan S); 0968.476.106 (lưu tên Cut); 0867.175.275 (lưu tên Loe); số 0386.020.817 (kh ng lưu tên); số 0966.536.145 (lưu tên Lien Gia) và các tin nhắn giữa số điện thoại 0869.969.255 của Nguyễn Duy D với các số điện thoại: 0327.053.089 (lưu tên Cháu Cường); 0971.160.544 (lưu tên cháu Tiến Mù) có chứa nội dung nghi liên quan đến việc mua bán số l , đề. Quá trình điều tra, T, D kh ng cung cấp được th ng tin cá nh n của người s dụng số điện thoại trên và khai nội dung tin nhắn kh ng phải là mua bán số l , số đề. Do hết thời hạn điều tra chưa nhận được kết quả trả lời của các c ng ty viễn th ng về việc cung cấp th ng tin đăng ký thuê bao, lịch s cuộc gọi, tin nhắn từ các số điện thoại này. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục ác minh, điều tra làm rõ để lý sau.
- Đối với nội dung D khai ngoài mua số l , số đề của T, Th, D còn mua nợ số l , số đề của Nguyễn Văn Hoàn số tiền 92.000.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Hoàn khai kh ng có sự việc này. Căn cứ vào tài liệu điều tra, kh ng đủ cơ sở để lý Hoàn theo nội dung D trình bày.
- Đối với nội dung Lê Huy Đ khai đã mua s l , số đề của Lê Huy Núi trong các ngày 23, ngày 24 tháng 4 năm 2021. Tại Cơ quan điều tra, Núi khai kh ng có sự việc như Đ trình bày. Do kh ng có chứng cứ, tài liệu nào khác nên kh ng đủ cơ sở để lý Núi theo nội dung Đ trình bày.
- Đối với hành vi mua số đề vào ngày 18 tháng 02 năm 2021 với số tiền là 4.400.000 đồng giữa D và T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 29/10/2021, C ng an huyện yên Mỹ đã ra quyết định phạt hành chính.
5. Vật chứng và một số đồ vật, tài sản thu giữ:
Cơ quan điều tra đã thu giữ một số điện thoại và tiền của các đối tượng đánh bạc để phục vụ điều tra và đã lý theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T và Lê Huy Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS-ST ngày 27/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ đã quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và Đ. X phạt Hoàng Văn T và Lê Huy Đ, mỗi bị cáo 03 (Ba) năm tù về tội Đánh bạc. Các bị cáo đều được trừ thời gian bị tạm giữ.
Ngoài ra bản án còn quyết định về lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/02/2022, bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 09/02/2022, bị cáo Lê Huy Đ kháng cáo in được cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng t , em t giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã t và tuyên phạt bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ, mỗi bị cáo 03 năm tù về tội Đánh bạc, theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T kh ng có tình tiết mới. Bị cáo Đ có giao nộp 01 Đơn in được hưởng án treo, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương ác nhận và đề nghị; 01 Giấy chứng nhận bị cáo có bác ruột Lê Huy Phan là Liệt sỹ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã t và tuyên phạt mỗi bị cáo 03 năm tù về tội Đánh bạc là phù hợp, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng t áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàn Văn T và Lê Huy Đ, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Huy Đ có Đơn in t vắng măt và đã g i bản Luận cứ bào chữa. Áp dụng quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng t tiến hành t vắng mặt người bào chữa.
. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:
Trong các ngày 17 tháng 02 năm 2021 và 21, 22, 23, 25 tháng 3 năm 2021, tại huyện Yên Mỹ, t nh Hưng Yên, Hoàng Văn T đã có hành vi đánh bạc trái ph p dưới hình thức bán số l , số đề cho Nguyễn Duy D và Lê Huy Đ. Tổng số tiền T đánh bạc là 348.800.000 đồng.
Trong các ngày 21, 22, 23 và ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại huyện Yên Mỹ, t nh Hưng Yên, Lê Huy Đ đã có hành vi đánh bạc trái ph p dưới hình thức mua số l , số đề của Hoàng Văn T. Số tiền Đ đánh bạc là 343.000.000 đồng.
Bởi hành vi trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm t các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ về tội Đánh bạc, theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng t phúc thẩm t thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, m phạm đến trật tự c ng cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự để phạt các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo cùng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo cùng có tình tiết giảm nhẹ là: Sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền dùng để đánh bạc và có đơn in giảm nhẹ hình phạt được chính quyền nơi cư trú ác nhận, bị cáo Đ có đơn in giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương ác nhận theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T kh ng có tình tiết mới. Bị cáo Đ có giao nộp 01 Đơn in được hưởng án treo, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo đã bỏ đi khỏi địa phương để mình bị cáo là lao động chính nu i hai con còn nhỏ, được chính quyền địa phương ác nhận và đề nghị; 01 Giấy chứng nhận bị cáo có bác ruột Lê Huy Ph là Liệt sỹ. Tuy nhiên, t thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nh n th n của các bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính ác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phạt mỗi bị cáo 03 năm tù về tội Đánh bạc là phù hợp, nên kh ng có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, cải tạo tại địa phương của các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Lê Huy Đ. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát nhân d n t nh Hưng Yên tại phiên toà.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị nên Hội đồng t kh ng em t.
. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của Tòa án nh n d n huyện Yên Mỹ, t nh Hưng Yên.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T và Đ.
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ phạm tội “Đánh bạc”.
X phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 (Ba) năm tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 01/5/2021; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
X phạt bị cáo Lê Huy Đ 03 (Ba) năm tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 01/5/2021; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn T và Lê Huy Đ, mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ KTGĐ I - TAND tối cao; - VKSND t nh Hưng Yên; - Phòng HSNVCS-CA t nh Hưng Yên; - TAND huyện Yên Mỹ; - VKSND huyện Yên Mỹ; - C ng an huyện Yên Mỹ; - Chi cục THSDS huyện Yên Mỹ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tuấn Hưng |