- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị Thủy N với anh Nguyen Henry Trong A"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thủy N. Cho chị Lê Thị Thủy N được ly hôn với anh Nguyen Henry Trong A.
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lâm Hải Trung
bà Trần Lệ Thu
- Thư ký phiên tòa: ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021 về: “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Thủy N; cư trú tại: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: anh Nguyen Henry Trong A; cư trú tại: USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thủy N trình bày: chị và anh Nguyen Henry Trong A quen biết nhau do người khác giới thiệu, sau thời gian tìm hiểu, hai người có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được vài ngày ở nhà cha mẹ chị tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long rồi anh Nguyen Henry Trong A trở về Hoa Kỳ. Mỗi năm anh Nguyen Henry Trong A về thăm chị khoảng hai lần, mỗi lần từ một đến hai tuần. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mẫu do tính tình không phù hợp, vợ chồng thường cự cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn. Từ năm 2017, anh Nguyen Henry Trong A không còn liên lạc với chị, chị nhiều lần điện thoại cho anh Nguyen Henry Trong A nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyen Henry Trong A.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tòa án tiến hành ủy thác tư pháp theo quy định để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Nguyen Henry Trong A là bị đơn. Trong đó, ấn định ngày mở phiên họp hòa giải, ngày mở phiên tòa nhưng anh Nguyen Henry Trong A không gửi ý kiến về Tòa án và không có mặt để tham dự phiên tòa. Vì vậy Tòa án giải quyết vắng mặt đối với anh theo quy định tại Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xét chị Lê Thị Thủy N và anh Nguyen Henry Trong A kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thủy N là công dân Việt Nam với anh Nguyen Henry Trong A quốc tịch Hoa Kỳ là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết.
Nhận thấy chị Lê Thị Thủy N và anh Nguyen Henry Trong A kết hôn nhưng tìm hiểu nhau chưa kỹ. Theo chị Lê Thị Thủy N trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường cự cãi nhau do tính tình không phù hợp. Chị và anh Nguyen Henry Trong Akhông còn liên lạc với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Xét thấy hai người ở hai nước khác nhau, thời gian dài không còn liên lạc với nhau, điều này thể hiện không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, ai biết bổn phận của người đó, quan hệ hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên hình thức, thực chất tình cảm vợ chồng không còn. Điều này cho thấy anh Nguyen Henry Trong A đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân giữa anh và chị Lê Thị Thủy N lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc chị Lê Thị Thủy N yêu cầu ly hôn với anh Nguyen Henry Trong A là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị Lê Thị Thủy N không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lê Thị Thủy N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị: chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thủy N. Cho chị Lê Thị Thủy N được ly hôn với anh Nguyen Henry Trong A.
2. Án phí: chị Lê Thị Thủy N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 22 ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Lê Thị Thủy N được quyền kháng cáo. Anh Nguyen Henry Trong A được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TANDCC: 01b; - VKSNDTVL: 02b - CATANDTVL: 01b; - THADSTVL: 02b; - STP: 01b; - Đ/sự: 02b; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án: 04b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tuấn |