vanban.org

Bản án 34/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H. Về án phí: Bà Bùi Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí bà Bùi Thị Hồng H đã nộp theo biên lai số 0002714 ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Hồng Hạnh _Nguyễn Thanh Hòa"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 5 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Minh Kha 2. Bà Nguyễn Thị Tua

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2022/TLST ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 93/2022/QDST HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng H, Sinh năm: 1990; địa chỉ: số 162/18/29, đường Nguyễn Duy C, quận G, thành phố H (vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H – sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp 7A2, xã V, huyện VT, tỉnh H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng H trình bày:

Tôi và chồng tôi ông Nguyễn Thanh H được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 09/10/2017, tại Ủy ban nhân dân xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu, tôi và chồng tôi chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên tôi quyết định ly hôn với ông Nguyễn Thanh H, tôi và chồng tôi đã không còn chung sống với nhau khoảng từ tháng 09/2018 cho đến nay. Về con chung; tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn Nguyễn Thanh H vắng mặt, chưa ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Bùi Thị Hồng H khởi kiện ông Nguyễn Thanh H yêu cầu được ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Vị Thủy theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng H vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng H và ông Nguyễn Thanh H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2017, tại Ủy ban nhân dân xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống giữa bà H và ông H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Bà H và ông H không còn chung sống với nhau từ tháng 09 năm 2018 cho đến nay. Xét thấy quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải, động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông Hoà không đến Tòa án để giải quyết, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông H là trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, hôn nhân không thể kéo dài nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung; tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về án phí: Bà Bùi Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí bà Bùi Thị Hồng H đã nộp theo biên lai số 0002714 ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành tiền án phí (bà Bùi Thị Hồng H đã nộp xong).

Nguyên đơn; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ