- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hiền - Lương Trọng Nghĩa"
- Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/4/2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Hùng
2. Bà Đỗ Thị Thúy Diễm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 271/2021/TLST – HNGĐ ngày 13/12/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 18/3/2022, quyết định hoan phiên tòa số 34/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 06/4/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Phường 1, thành phố M, tỉnh T.
Bị đơn: Anh Lương Trọng N, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/10/2021 và các lời trình khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Do quen biết chị và anh Lương Trọng N bắt đầu sống chung với nhau vào đầu năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 24/7/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc đến tháng 01/2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do anh N có quan hệ tình cảm với người khác ở ngoài nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm sống, anh Na cũng không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh Lương Trọng N.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Lương Nguyễn Trâm A, sinh ngày 04/10/2014, hiện con đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị H trình bày tài sản chung: trong thời gian chung sống vợ chồng có 760m2, đất tọa lạc tại ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh T, đất hiện do anh N quản lí và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.
Bị đơn anh Lương Trọng N vắng mặt những lần Tòa án mời nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật từ khi thụ lý đến xét xử; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình cụ thể vắng mặt vào những lần Tòa án mời; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H. Về con chung: chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi con chung tên Lương Nguyễn Trâm A, sinh ngày 04/10/2014, hiện cháu đang sống chung với chị H, anh Lương Trọng N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi; Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị H trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; nợ chung không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn anh Lương Trọng N có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lương Trọng N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị H cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do anh N có quan hệ với người khác ở ngoài nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm sống, anh N cũng không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh Lương Trọng N. Phía anh N được Tòa án mời tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh không đến cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình hay phản bác về các yêu cầu khởi kiện của chị H chứng tỏ anh N không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Trong đời sống vợ chồng có mâu thuẫn lẽ ra anh chị phải tìm cách khắc phục hạn chế, thiếu sót của bản thân mỗi người nhưng cả anh chị không vì nhau mà thay đổi bản thân theo hướng tốt hơn để gia đình hạnh phúc mà chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày anh chị không khắc phục được để mẫu thuẫn dần lớn suốt thời gian dài dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2017 cho đến nay và nay chị H kiên quyết xin ly hôn với anh N. Từ những lập luận trên nghĩ rằng hôn nhân của anh chị mặc dù xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ nhưng do bản thân anh chị không cố gắng khắc phục nên đến nay mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ.
Về con chung: chị H trình bày trong thời gian chung sống anh chị có một con chung tên Lương Nguyễn Trâm A, sinh ngày 04/10/2014, hiện cháu đang sống chung với chị H, sau khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị H và anh N sống ly thân đến nay cháu Trâm A vẫn do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu là được sống với mẹ. Do vậy, nghĩ để chị H tiếp tục nuôi cháu Trâm Anh để không làm xáo trộn việc sinh hoạt cũng như học hành của cháu sau khi cha mẹ ly hôn. Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: mặc dù ly hôn nhưng anh chị vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên và người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định pháp luật. Ngày 17/01/2022 Tòa án ra thông báo cho cả chị H để chứng minh nhu cầu thiết yếu của cháu Trâm A trong một tháng và khả năng thực tế của anh N đủ để cấp dưỡng nuôi cháu Trâm A mỗi tháng 3.000.000 đồng. Tuy nhiên đến nay chị H cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh khả năng thực tế của anh N đủ để cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của chị H. Do đó, căn cứ vào văn bản số 97/UBND-VHXH, ngày 16/3/2022 của Ủy ban nhân dân xã H xác định mức thu nhập bình quân đối với lao động nam không có bằng cấp, tay nghề là 4.416.000 đồng/ tháng và mức sinh hoạt trung bình tại địa phương của trẻ đang học cấp bậc tiểu học là 3.000.000 đồng/ tháng, việc chị H yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/ tháng là quá cao so với mức sinh hoạt trung bình của trẻ cấp bậc tiểu học. Do đó, sau khi xem xét đến khả năng kinh tế nói chung và thu nhập nói riêng của anh N, chị Hvà nhu cầu thiết yếu của cháu Trâm A (tính theo mức trung bình của trẻ ở địa phương) thì Hội đồng xét xử có căn cứ buộc anh Lương Trọng N phải có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu Trâm A tròn 18 tuổi là phù hợp. Về chia tài sản khi ly hôn: chị H trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, nợ chung không có nên không đề cập.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng. Anh Lương Trọng N phải nộp án phí cấp dưỡng số tiền là 300.000 đồng.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lương Trọng N.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lương Nguyễn Trâm A, sinh ngày 04/10/2014, hiện con đang sống với chị H, anh Lương Trọng N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 5/2022 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng mỗi tháng cấp một lần.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3] Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị H trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nợ chung không có nên không đề cập.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002442 ngày 13/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh B nên không phải nộp thêm.
Anh Lương Trọng N phải chịu án phí cấp dưỡng với số tiền là 300.000 đồng.
[5] Về quyền kháng cáo và thi hành án:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B (1b); - VKSND huyện M (2b); - Chi Cục THADS huyện M (1b); - Các đương sự (2b); - UBND xã H, ĐKKH số 43, ngày 24/7/2015 (1b); - Lưu: Hồ sơ, VP (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Nhớ |