- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/DS-PT Ngày 21 - 02 - 2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hoàng Lâm.
Ông Nguyễn Hoàng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 12 năm 2021 và ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2021/TLPT-DS ngày 29 tháng 7 năm 2021, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2021/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 159/2021/QĐ-PT ngày 21 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Văn N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Quách T (T M), sinh năm 1945. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Quách T: Ông Quách Văn C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản uỷ quyền ngày 01/12/2021)- (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Thái Thị A, sinh năm 1953. (vắng mặt)
2. Ông Quách Văn C, sinh năm 1985. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, Sóc Trăng.
3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965. (vắng mặt)
4. Bà Lâm Thị Cẩm N, sinh năm 1988. (vắng mặt)
5. Ông Lâm Quốc V, sinh năm 1990. (vắng mặt)
6. Ông Lâm Vũ P, sinh năm 1994. (vắng mặt)
7. Bà Lâm Tú Q, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông V, ông P, bà Q: Ông Lâm Văn N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Trương Văn Q, sinh năm 1945. Địa chỉ: Ấp M, thị trấn L, huyện T, Sóc Trăng. (vắng mặt)
2. Bà Tô Thị Đ, 74 tuổi. Địa chỉ: Ấp M, thị trấn L, huyện T, Sóc Trăng. (vắng mặt)
3. Ông Ngô H, sinh năm 1946. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
4. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
5. Ông Thạch Minh S, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
6. Ông Võ Văn V, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
7. Ông Lâm H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
8. Ông Trần Văn T, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Quách T (T m) là bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Lâm Văn N, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Lâm Thị Cẩm N, ông Lâm Quốc V, ông Lâm Vũ P, bà Lâm Tú Q trình bày:
Đất tranh chấp tại thửa 194 diện t ch tranh chấp 365,5m2 (theo đo đạc thực tế), t a lạc ấp R y M i, xã Thạnh Trị, do ông Lâm Văn N đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đư c cấp năm 1992. Nguồn gốc đất là đất của ông n i là ông Lâm H, ông Quách T và ông Lâm Văn B (ông B còn có tên g i khác là ông B D) đều là con của ông H (theo ông T thì ông n i tên Quách Th nhưng ông không biết có đúng hay không vì ông n i có 05 người con và hiện chỉ còn ông Quách T, các anh em khác đều đã chết), từ trư c năm 1975 ông n i cho đất ông Lâm Văn B là cha của ông N, ông B sử dụng đến năm 1985 t p đoàn cấp và ông B cho lại ông N nên ông N sử dụng từ năm 1985 đến năm 1992 ông đư c cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Vào năm 2011, ông N cho ông Quách T mư n phần đất cặp mé kênh để trồng bạch đàn, ông T thuê máy ủi và trồng bạch đàn cho đến năm 2016 ông T cặm trụ đá để sử dụng v nh viễn nên ông không đồng ý và có yêu cầu UBND xã giải quyết bu c trả lại đất, ủy ban xã có hòa giải không thành nhưng do lúc đó địa phương cho r ng đất bãi bồi ven sông nên ông không khởi kiện đư c. Đến năm 2018 ông tiếp tục tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án.
Hiện trạng theo kết quả thẩm định trên đất hiện có 70 cây bạch đàn do ông T trồng là ông đồng ý.
Thửa 194 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cấp cho ông Lâm Văn N, do là sau khi ông N đư c cha cho đất thì gia đình ông cất nhà, trồng hoa màu trên đất và c ng sinh sống cho đến khi có chủ trương cấp quyền sử dụng thì ông N đăng ký và đư c ủy ban cấp quyền sử dụng. Những thành viên trong h của ông N là các con của ông đã uỷ quyền cho ông tham gia phiên toà đều không có ý kiến gì về việc tranh chấp.
Tại phiên tòa, ông yêu cầu giải quyết bu c những người đang sử dụng đất là ông T, bà A và con ông T là ông Quách Văn C trả lại đất tranh chấp 365,5m2, đối v i cây trồng trên đất yêu cầu ông T đốn toàn b cây trên đất, nếu ông T không đốn thì ông sử dụng cây và đồng ý trả giá trị cây cho ông T.
* Bị đơn ông Quách T tr nh ày:
iữa ông v i ông Dựa (cha của ông N) là anh em, đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha tên Quách Thảo, tuy nhiên đất này là ông Th cho ông, không có cho ông Dựa, ông sống c ng nhà v i cha từ nh cho đến năm 1968 bị bắt đi l nh, năm 1969 ông về ở chung v i cha và đư c cha cho phần đất hiện tranh chấp, khi cha chết thì ông về bên v ở (c ng ấp) nhưng v n sử dụng đất tranh chấp để trồng hoa màu, ông trồng hoa màu kể từ năm 1969 cho đến khi làm l là khoảng năm 2009 là ông không sử dụng nữa, b trống khoảng 02 năm, đến năm 2011 ông m i ủi ra trồng bạch đàn. Sau này ông đăng ký quyền sử dụng đất thì ông N ngăn cản và kêu chừa đường cho ông N lên xuống chiều ngang 5m nhưng ông không đồng ý. Sự việc tranh chấp giữa ông và ông N có ra y ban xã hòa giải, ủy ban xã cho r ng đất bãi bồi ven sông và không đăng ký quyền sử dụng đất đư c nhưng thống nhất cho ông đư c quyền sử dụng, khi nào Nhà nư c có nhu cầu lấy lại thì ông trả. Nay ông không đồng ý trả đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Thái Thị có ý kiến tr nh ày tại iên ản hoà giải ngày 30/01/2019: Bà thống nhất v i lời khai của ông Quách T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Văn C trình bày: Đất tranh chấp là đất của ông Quách T (ông T là cha của ông), ông T có trồng cây bạch đàn trên đất, ông là con và ở chung v i ông T nên phụ giúp ông T trồng cây. Đất tranh chấp không phải của ông N và ông không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông N.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Nguyễn Thị T trình bày: Bà là v ông N, đất tranh chấp là v chồng bà sử dụng từ trư c t i giờ và cũng đã đư c cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, yêu cầu ông T trả lại đất tranh chấp thì bà không đồng ý.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2021/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định: Căn c Điều 166, Điều 357 B lu t Dân sự; Điều 203 Lu t đất đai; Điều 147, 157, 165, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229 B lu t Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Bu c ông Quách T, bà Thái Thị A và ông Quách Văn C giao trả cho ông Lâm Văn N diện t ch đất tranh chấp 365,5m2, thửa 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp R y M i, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng do ông Lâm Văn N đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cấp ngày 09/12/1992, vào sổ cấp giấy số 000008, t cạnh:
- Hư ng Đông Bắc giáp ông Quách T có số đo 10,26m,
- Hư ng Tây Nam giáp ông Đỗ Thanh P có số đo 7,96m,
- Hư ng Đông Nam giáp sông M có số đo 14,28m + 14,59m + 12,16m,
- Hư ng Tây Bắc giáp l đal có số đo 6,15m + 9,31m + 25,70m.
Ông Lâm Văn N đư c quyền sở hữu toàn b 70 cây bạch đàn trên đất tranh chấp.
Ông Lâm Văn N có ngh a vụ trả giá trị 70 cây bạch đàn cho ông Quách T v i tổng số tiền là: 4.900.000 (bốn triệu ch n trăm nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất ch m trả, chi ph thẩm định, định giá; án ph dân sự sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo lu t định.
Ngày 21/6/2021, bị đơn ông Quách T kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Đo đạc lại toàn b thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp M, xã T, huyện Thanh Trị, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hư ng không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn N về việc yêu cầu ông trả lại diện t ch đất 365,5 m2, đất t a lạc theo địa chỉ nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lâm Văn N không rút đơn khởi kiện, bị đơn ông Quách T rút lại m t phần đơn kháng cáo đối v i việc yêu cầu đo đạc lại toàn b thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp M, xã T, huyện Thanh Trị, tỉnh Sóc Trăng; Các đương sự không th a thu n đư c v i nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp lu t của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đối v i yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Quách T là không có căn c nên đề nghị H i đồng xét xử không chấp nh n và áp dụng khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào các tài liệu, ch ng c đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nh n định:
Về tố tụng:
Về t nh h p pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Quách T đảm bảo về mặt hình th c và n i dung, đúng người có quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 275 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, nên đủ điều kiện để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền l i, ngh a vụ liên quan bà Lâm Thị Cẩm N, ông Lâm Quốc V, ông Lâm Văn P và bà Lâm Tú Q vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa có mặt; người có quyền l i, ngh a vụ liên quan bà Thái Thị A và những người làm ch ng là ông Trương Văn Q, bà Tô Thị Đ, ông Ngô H, ông Nguyễn Thanh S, ông Thạch Minh S, ông Võ Văn V, ông Lâm H và ông Trần Văn T vắng mặt lần th hai không có lý do, việc vắng mặt của những người này cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do v y, H i đồng xét xử căn c khoản 3 Điều 296 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
Tại tòa, người đại diện theo ủy quyền bi đơn rút lại m t phần đơn kháng cáo đối v i việc yêu cầu đo đạc lại toàn b thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp M, xã T, huyện Thanh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy, việc đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút m t phần đơn kháng của h là tự nguyện, không bị ai ép bu c. Do đó, H i đồng xét xử căn c khoản 2 Điều 244 B lu t Tố tụng dân sự chấp nh n việc rút m t phần kháng cáo của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối v i yêu cầu này.
Về n i dung vụ án:
Nguyên đơn ông Lê Văn N cho r ng, phần đất tranh chấp diện t ch 365,5m2, thửa 194, t a lạc ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc là của ông Lâm H (tên g i khác là Quách Th) cho ông Lâm Văn B từ trư c năm 1975, sau đó ông B m i cho lại nguyên đơn sử dụng từ năm 1985, đến năm 2011 thì cho bị đơn T mư n sử dụng. Ngư c lại, bị đơn ông Quách T cho r ng, nguồn gốc phần đất là của ông Quách Th (ông Lâm H), nhưng ông Th cho phần đất này cho bị đơn và bị đơn sử dụng phần đất này từ năm 1969 cho đến nay.
Xét kháng cáo của ông Quách T, H i đồng xét xử phúc thẩm nh n thấy:
Từ lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn có căn c xác định, phần đất tranh chấp diện t ch 365,5m2, thu c m t phần thửa 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc là của ông Lâm H (tên g i khác là Quách Th) là ông bà của nguyên đơn và bị đơn sử dụng trư c năm 1975, do đó căn c vào khoản 2 Điều 92 B lu t tố tụng Dân sự thì không cần phải ch ng minh về nguồn gốc phần đất tranh chấp.
Cả nguyên đơn và bị đơn đều cho r ng, mình đều đư c nh n tặng cho phần đất tranh chấp này, nhưng ngoài lời trình bày của mình ra thì nguyên đơn và bị đơn không có ch ng c gì ch ng minh. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh những người làm ch ng cũng như hiểu biết về phần đất tranh chấp này xác định, phần đất tranh chấp giáp sông, kế đến l đal và ph a trên là nhà của ông N, những người này đều trình bày là thấy ông B sử dụng đất, sau đó thì thấy ông N sử dụng đất, thời điểm này chưa có l đal, sau này Nhà nư c m i làm l đal, đến khi xáng múc kênh thì ông T m i ủi đất trồng Bạch đàn.
Tại phiên tòa ngày 30/12/2021, Tòa án Quyết định tạm ngừng phiên tòa để thu th p ch ng c theo yêu cầu của bị đơn. Xét thấy, tại các biên bản xác minh ngày 30/12/2021, ông Trần Trung D là cán b địa ch nh khai trư c khi ông N và ông T tranh chấp đất thì ông T có đến xã yêu cầu ông xuống phần đất để đo cấp giấy, khi ông đến phần đất thì thấy ông N có ở đó và khi chuẩn đo thì ông N có xin ông T thêm cho đủ 5m để lên xuống mé sông và khi xã hòa giải ngày 18/7/2018 thì ông H, ông D và ông L có tham, tại cu c gia hòa giải thì các anh em có đ ng viên ông N và ông T chia đôi đất hoặc trả hoa l i (trả giá trị) thì lúc đầu ông N đồng ý nhưng sau đó hai bên cự cải thì hai bên không đồng ý; còn tại biên bản hòa giải ngày 18/7/2018 thì không thể hiện ý kiến nêu trên của những người làm ch ng. Như v y, việc các anh trình bày là chỉ đ ng viên cho các bên th a thu n, do các đương sự không th a thu n nên l p biên bản hòa giải không thành.
Tại Công văn số 245/UBND-VP, ngày 11/5/2020 của y ban nhân dân huyện T trả lời cho Tòa án xác định diện t ch đất tranh chấp 365,5m2 là n m trong thửa 194, do ông Lâm Văn N đ ng tên quyền sử dụng đất đư c cấp ngày 09/12/1992. Đồng thời, thông qua hình thể, t c n, vị tr phần đất của ông N so v i phần đất tranh chấp trư c đây là hai phần đất liền kề v i nhau, do khi làm l đal thì m i bị chia cắt, đều này là ph h p v i thực tế.
Từ những phân t ch trên, có căn c xác định trư c khi Nhà nư c thi công l đal thì phần đất tranh chấp này tiếp giáp v i phần đất ph a trên của ông N, đư c gia đình ông N sử dụng làm nơi neo đ u ghe, xuồng cũng như trồng hoa màu, trong quá trình sử dụng thì ông N cũng đã đư c cơ quan có thẩm quyền cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất vào năm 1992, do đó lời trình bày của ông N là có căn c , H i đồng xét xử chấp nh n. Bị đơn cho r ng mình đư c ông Th (H cha ru t) cho phần đất tranh chấp này, nhưng ngoài lời trình bày của mình ra thì bị đơn không có ch ng c gì để ch ng minh và tại phiên tòa hôm nay bị đơn cũng không cung cấp thêm ch ng c m i để ch ng minh cho lời trình bày của mình là có căn c , nên H i đồng xét xử không chấp nh n toàn b kháng cáo của bị đơn Quách T.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn c , nên H i đồng xét xử chấp nh n.
Về án ph phúc thẩm: Do ông Quách T là người cao tuổi và có đơn xin mien nên ông T đư c miễn án ph theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Quách T. iữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 35/2021/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Căn c Điều 166, Điều 357 B lu t Dân sự; Điều 203 Lu t đất đai; Điều 147, 157, 165, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229 B lu t Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bu c ông Quách T, bà Thái Thị A và ông Quách Văn C giao trả cho ông Lâm Văn N diện t ch đất tranh chấp 365,5m2, thửa 194, tờ bản đồ số 10, t a lạc ấp R y M i, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng do ông Lâm Văn N đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cấp ngày 09/12/1992, vào sổ cấp giấy số 000008, có số đo và t cạnh:
- Hư ng Đông Bắc giáp ông Quách T có số đo 10,26m;
- Hư ng Tây Nam giáp ông Đỗ Thanh P có số đo 7,96m;
- Hư ng Đông Nam giáp sông M có số đo 14,28m + 14,59m + 12,16m;
- Hư ng Tây Bắc giáp l đal có số đo 6,15m + 9,31m + 25,70m.
Ông Lâm Văn N đư c quyền sở hữu toàn b 70 cây bạch đàn trên đất tranh chấp.
Ông Lâm Văn N có ngh a vụ trả giá trị 70 cây bạch đàn cho ông Quách T v i tổng số tiền là: 4.900.000 (bốn triệu ch n trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án đối v i khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền ch m thi hành án theo qui định tại Khoản 2 Điều 468 B lu t Dân sự tương ng v i thời gian chưa thi hành án
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông Quách T đư c miễn n p án phí.
2.2. Hoàn trả cho ông Lâm Văn N số tiền tạm ng án ph đã n p là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003278 ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3. Chi ph thẩm định, định giá:
3.1. Bu c ông Quách T n p chi ph thẩm định, định giá là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
3.2. Hoàn trả cho ông Lâm Văn N số tiền tạm ng chi ph thẩm định, định giá đã n p 6.000.000 đồng (nh n tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T sau khi ông T n p chi ph thẩm định, định giá).
4. Về án ph phúc thẩm: Ông Quách T đư c miễn.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án, người phải Thi hành án có quyền th a thu n Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Lu t Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hồ Văn Phụng |