vanban.org

Bản án 34/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 02/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Lê Xuân T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 3 năm 2021. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Xuân T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 34/2021/HS-ST
Ngày: 02-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Thanh

2. Ông Cao Văn Hồng Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê Xuân T, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1987, tại Phường 1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Số 37, mé Sông Chợ, khóm H, Phường 1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Trần Ngọc X (đã chết); anh, chị em ruột 02 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất là bị cáo.

Tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân bị cáo không có án tích, không bị xử lý vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật đã được xóa. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15 tháng 3 năm 2021 đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01 tháng 3 năm 2021, bị cáo Lê Xuân T đang ở nhà thuê tại số 64/6H, đường T2, Phường 4, TP. V, tỉnh Vĩnh Long thì có bạn tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô đến nhà T chơi, sau đó K

1

rủ T đi mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. K điều khiển xe mô tô chở T đến một con hẻm gần khu vực nhà hàng Hoàng Gia, thuộc Phường 4, thành phố V gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một bịch ma túy đá với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong thì K cất giấu số ma túy trên vào trong giỏ xách bằng vải màu vàng của T mang theo. K tiếp tục chở T đến quán cà phê chồi (không rõ tên quán) gần cầu Ông Me để sử dụng ma túy. K lấy trong giỏ xách của T ra một bịch ma túy và một cái nỏ thủy tinh mà T chuẩn bị trước đó, cắt khoảng ½ lượng ma túy bỏ vào trong nỏ rồi cùng nhau sử dụng hết lượng ma túy trên, phần ma túy còn lại K hàn kín và cất giấu bên trong giỏ xách bằng vải màu vàng của T.

Sau khi sử dụng ma túy xong, K điều khiển xe mô tô chở T đến nhà trọ Hoa Mai thuộc ấp N, xã T3, huyện M với mục đích tiếp tục sử dụng phần ma túy còn lại. Khi đến trước cổng nhà trọ Hoa Mai, K dừng xe trước cổng và cho T đi vào rồi K chạy xe mô tô đi công việc, lúc này khoảng 16 giờ cùng ngày T đang đi vào trong nhà trọ Hoa Mai thì Công an huyện M kết hợp Công an xã T3 tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ và niêm phong một bịch nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy đá và một cái nỏ thủy tinh.

Tại Kết luận giám định số: 106/KLGĐ-PC09 ngày 03/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong một bịch nylon được niêm phong trong bao thử gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2499 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 04 tháng 3 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về vật chứng thu giữ: Chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định có tổng khối lượng 0,1726 gam, 01 (mô ̣t) cái nỏ thủy tinh mà K và T dùng để sử dụng ma túy.

Đối với đối tượng tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) bạn của bị can T và một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đã bán ma túy cho K và T sử dụng. Hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được tiến hành xử lý sau.

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS.HMT, ngày 26/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

2

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Xuân T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố hành vi của mình là hoàn toàn đúng sự thật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249, các Điều 38, 46, 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định và một cái nỏ thủy tinh; về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng bị cáo Lê Xuân T tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T thừa nhận: Vào khoảng 16 giờ, ngày 01/3/2021 tại nhà trọ Hoa Mai, thuộc ấp N, xã T3, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Lê Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị lực lượng Công an huyện M kết hợp với Công an xã T3 phát hiện thu giữ theo kết luận giám định chất ma túy là loại Methamphetamine có khối lượng 0,2499 gam.

Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo

3

quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo Lê Xuân T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với bản kết luận điều tra mà còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với người có tên K là bạn bị cáo và người thanh niên bán ma túy hiện nay chưa xác định được họ tên và địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M chưa làm việc được, khi nào làm việc sẽ xử lý sau.

Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy mà còn là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác. Như chúng ta đều biết, ma túy là chất hướng thần; người sử dụng sẽ bị kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, người sử dụng nhiều sẽ gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dễ kích động thần kinh theo hướng tiêu cực, làm suy giảm khả năng lao động, dễ dẫn đến những tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật hoặc là một trong những nguyên nhân dân đến căn bệnh HIV. Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo lại mua ma túy một cách trái phép về trữ sẵn để sử dụng cho thấy ý thức coi thường pháp luật, nhất là trong tình hình tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và cần được ngăn chặn kịp thời hiện nay. Vì thế, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo tài liệu, chúng cứ và lời khai bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Gồm 0,1726 gam, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định và một cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và trực tiếp liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

4

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Phạt bị cáo Lê Xuân T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 3 năm 2021.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Xuân T.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy, loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng là 0,1726 gam (đã niêm phong) và một cái nỏ thủy tinh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M với Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;

Buộc bị cáo Lê Xuân T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ