- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Phùng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố Phùng Văn T phạm; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2021/HS-ST Ngày 13 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiểu và bà Nguyễn Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ
Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Bà PhùngThị Mỹ Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 13/5/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Phùng Văn T, sinh năm 1967 tại xã H, huyện PT, thành phố Hà Nội; HKTT: Thôn 4, xã H, huyện PT, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Tiến và bà Kim Thị Bẻo; có vợ, và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 06 năm tù vè tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2021 đến ngày 04/02/2021 tại ngoại. “có mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Phùng Thị Ph, sinh năm 1996. “có mặt”
Địa chỉ: Thôn 4, xã H, huyện PT
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/02/2021, Phùng Văn T muốn sử dụng ma túy nên điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade Biển kiểm soát 29V3 – 482.62 của gia đình đi tìm người bán ma túy để mua sử dụng. Khi đến đoạn đường đê thuộc xã Thọ An, huyện Đan Phượng, thấy một nam thanh niên không quen biết đứng ở điếm canh đê có biểu hiện nghiện ma túy, nên Tuấn đến hỏi mua ma túy và đưa 200.000đồng. Người này nhận tiền và đưa cho Tuấn 01(một) gói ma túy heroine. Tuấn cất gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, rồi đi xe máy về nhà. Khi về đến đoạn đường thôn 4, xã H, huyện PT, lúc đó khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, thì gặp tổ công tác của Công an xã Hát Môn đang đi tuần tra làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Do Tuấn không đội mũ bảo hiểm nên tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Tuấn tự giác lấy 01(một) gói ma túy đang cất trong người giao nộp và khai nhận là ma túy heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Vật chứng thu giữ của Tuấn:
- 01 (một) gói nhỏ bên ngoài quấn nilông, kích thước (01x01)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA ARIBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 29V3 – 482.62;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ;
- Số tiền 3.033.000 đồng (ba triệu không trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Tại bản kết luận giám định số 1429/KLGĐ – PC09 ngày 09/02/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bên ngoài quấn nilông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,103gam”.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 12/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Phùng Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo PhùngVăn Tuấn khai: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/02/2021, Tuấn thấy trong người mệt mỏi muốn sử dụng ma túy nên đi mua 01 gói ma túy với giá 200.000đồng của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực đường đê thuộc xã Thọ An, huyện Đan Phượng. Trên đường về nhà đến khu vực thôn 4, xã H, huyện PT thì bị tổ công tác của Công an xã Hát Môn kiểm tra hành chính, bắt quả tang, thu giữ trong người Tuấn 01(một) gói ma túy cùng một số đồ vật khác.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 01/02/2021, PhùngVăn Tuấn đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,103 gam Heroin tại khu vực thôn 4, xã H, huyện PT thì bị bắt quả tang. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và các văn bản hướng dẫn, hành vi đó của Phùng Văn T đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Ma túy là nguyên nhân làm cho người sử dụng suy kiệt về thể lực, suy giảm về trí lực, suy đồi về đạo đức, là nguyên nhân gieo rắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, đặc biệt là căn bệnh AIDS mà toàn xã hội đang phải phòng chống, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, bị cáo bị bệnh mãn tính sức khỏe yếu là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt hình phạt bổ sung.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09, Công an thành phố Hà Nội, bên trong chứa chất ma túy, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên, của Phùng Văn T và cán bộ Công an xã Hát Môn không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA ARIBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 29V3 – 482.62 thu giữ của Tuấn. Kết quả điều tra xác định, đây là tài sản chung của gia đình Tuấn, là phương tiện sử dụng chung cho cả gia đình, không phải là tài sản của riêng Tuấn. Ngày 01/02/2021, Tuấn sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy, gia đình không ai biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Phương, đại diện gia đình của Tuấn. Nay không ai có yêu cầu gì khác, nên Tòa án không xem xét.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ và số tiền 3.033.000đồng thu giữ của Phùng Văn T là tài sản hợp pháp của Tuấn, không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Tuấn. Nay Tuấn không có yêu cầu gì khác, nên Tòa án không xem xét.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về nguồn gốc số ma tuý: PhùngVăn Tuấn khai của một người không biết tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không không có căn cứ để xác minh, xử lý.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự
Tuyên bố Phùng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Xử phạt: Phùng Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 01/02/2021 đến ngày 04/02/2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09, Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên, của Phùng Văn T và cán bộ Công an xã Hát Môn. (Vật chứng này Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ đang lưu giữ theo biên bản giao nhận ngày 12/4/2021).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - Công an huyện Phúc Thọ; - Sở tư pháp TP. Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; người có QL,NV liên quan; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ; - Lưu HS, VP. Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Hiếu Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 |