vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Phạm Trung N.

Về con chung: Giao cả hai con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày 16/02/20xx và Phạm Khánh A, sinh Ngy 22/7/20xx cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Ng-N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Phạm Trung N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 8 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nhòng.

Ông Vũ Đức Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 19xx; ĐKTT: Thôn L, xã Đ, huyện T, Hải Phòng; chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Trung N, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, N đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Chị Ng và anh N tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 13/5/2013.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm xung đột với nhau. Mâu thuẫn trở lên căng thẳng nên từ tháng 9 năm 2020 chị ngày đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể đoàn tụ, do vậy chị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày16/02/20xx và Phạm Khánh An, sinh ngày 22/7/20xx. Chị Ng nhận nuôi cả hai con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận, không yêu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 23 tháng 6 năm 2021, bị đơn anh Phạm Trung N trình bày: Anh N và chị Ng tự nguyện kết hôn với nhau năm 2013 có đăng ký hôn tại UBND xã Đ, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng.

Quá trình chung sống đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân chủ yếu là do chị Ng có tính ích kỷ, không biết thông cảm chia sẻ với chồng và gia đình nhà chồng nên mâu thuẫn Ngy càng căng thẳng. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Từ cuối năm 2020 chị Ng đã đưa con về nhà ông bà ngoại ở nên từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị Ng có đơn xin ly hôn, anh N không đồng ý vì anh anh N không bao giờ bỏ vợ, bỏ con.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày16/02/20xx và Phạm Khánh A, sinh ngày 22/7/20xx. Nếu Toà án giải quyết cho chị Ng được ly hôn và chị Ng nhận nuôi cả hai con, anh N cũng đồng ý. Còn còn nếu chị Ng không nhận nuôi con, thì anh N nhận nuôi cả hai con. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận, không yêu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình, kết quả cho thấy: Chị Ng và anh N tự nguyện xây dựng gia đình với nhau năm 2013 có đăng ký kết hôn theo luật định, đến nay vợ chồng có 02 con chung. Quá trình chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp nhau. Gia đình hai bên đã động viên khuyên giải nhưng không có kết quả, nên từ đầu năm 2021 chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi.

Tại phiên tòa, N đơn chị Nguyễn Thị Ng vẫn giữ N yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. N đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Phạm Trung N.

Về con chung: Căn cứ vào các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn, giao cả hai con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày 16/02/20xx và Phạm Khánh An, sinh ngày 22/7/20xx cho chị Ng nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí ly hôn theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Ng có yêu cầu ly hôn với anh Phạm trung N có nơi cư trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn anh Phạm Trung N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh Phạm trung N tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ng và anh N đã trầm trọng, hai người đã sống ly thân mỗi người một nơi cho thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Phạm Trung N.

Về con chung: Chị Ng và anh N có 02 con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày 16/02/20xx và Phạm Khánh A, sinh ngày 22/7/20xx. Ly hôn, chị Ng yêu cầu được nuôi cả hai con chung, anh N cũng đồng ý. Xét thấy, chị Ng là người có việc làm, thu nhập và có sự hỗ trợ của gia đình về nơi ăn ở, sinh hoạt, nên việc giao cả hai con chung cho chị Ng nuôi dưỡng là phù hợp điều kiện hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, đảm bảo được quyền lợi cũng như nguyện vọng của con nên cần chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của N đơn: Giao cả hai con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày 16/02/20xx và Phạm Khánh A, sinh ngày 22/7/20xx cho chị Ng nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con hai bên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Phạm Trung N.

- Về con chung: Giao cả hai con chung là Phạm Khánh Ng, sinh ngày 16/02/20xx và Phạm Khánh A, sinh Ngy 22/7/20xx cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị Ng đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012097 ngày 22 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phạm Trung N có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ