vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thu Th, chị Trần Thị Thu Th được ly hôn anh Chu Văn V.

Về con chung: Chị Th và anh V có hai con chung là cháu Chu Trần Tiến Sơn, sinh năm 2002 đã trưởng thành, nên không đề cập giải quyết. Giao cho chị Trần Thị Thu Th trực tiếp nuôi cháu Chu Trần Việt H, sinh ngày 09/8/2005. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Chu Văn V cho đến khi có yêu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án tranh chấp ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thu Th, chị Trần Thị Thu Th được ly hôn anh Chu Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY – HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 11 - 2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Tú

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương; Bà Nguyễn Thị Thi

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Thuận-Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 80/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2021, về việc Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2021/QĐXXST- DS ngày 13/10/2021và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2021/Q ĐST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu Th, sinh năm: 1978

ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; Có mặt.

- Bị đơn: Anh Chu Văn V, sinh năm 1977

ĐKHKTT: Tổ dân phố 6, V, phường Tr, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án, chị Trần Thị Thu Th là nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Chu Văn V kết hôn ngày 09/11/2001 có đăng ký tại UBND xã T, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Sau kết hôn thì vợ chồng sống tại phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau thì phát sinh mâu thuẫn từ tháng 3 năm 2013, nguyên nhân do chị và anh V không hợp nhau trong nhiều vấn đề của cuộc sống vợ chồng. Anh V không tôn trọng, quan tâm đến chị, làm việc gì chị cũng không được biết. Chị cũng có góp ý khuyên bảo nhưng anh V không nghe. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân hoàn toàn mỗi người ở một nơi từ năm 2015 cho đến nay. Chị về sống tại huyện Thanh Oai, Hà Nội cùng bố mẹ đẻ. Gia đình hai bên vợ chồng đều biết và có góp ý, mong vợ chồng hòa giải đoàn tụ nhưng không được mâu thuẫn ngày càng nặng nề hơn, vì vậy chị có làm đơn xin ly hôn, anh V có ký vào đơn đồng ý việc ly hôn, nhưng khi Tòa án báo gọi anh V lại không đến để giải quyết, gây khó khăn, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chị. Đến nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng vì vậy đề nghị Tòaán giải quyết cho chị được ly hôn anh V .

Về con chung chị và anh Huy có 02 con là Chu Trần Tiến Sơn, sinh ngày: 10/8/2002; Chu Trần Việt Hà, sinh ngày: 09/8/2005, hiện tại hai cháu đang ở cùng chị Th , được chăm sóc và đi học đầy đủ. Cháu Chu Trần Tiến Sơn đã trưởng thành, khỏe mạnh. Vì vậy khi ly hôn chị xin được nuôi cháu Chu Trần Việt Hà. Cháu Chu Trần Việt Hà cũng có nguyện vọng ở với mẹ, chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung của vợ chồng: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành giao các thông báo, triệu tập anh V để giải quyết vụ án nhưng anh V không đến, Tòa án đã giao, gửi các văn bản tố tụng cho anh V và địa phương, gia đình anh V. Đồng thời tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại phường Trung Hưng thì xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ lâu chị Th đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, vợ chồng chị Th , anh V có 02 con chung như chị Th trình bày là đúng. Chị Th xin ly hôn, Tòa án đã báo gọi anh V đến để hòa giải và giải quyết vụ án, nhưng anh V không đến, vì vậy Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự:

Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Th đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Chu Văn V đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 27/10/2021 và tại phiên tòa hôm nay ngày 15/11/2021 anh Chu Văn V đã được giao văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.  Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin hôn của

chị Trần Thị Thu Th, chị Th được ly hôn anh Chu Văn V. Về con chung, cháu

Chu Trần Tiến S, sinh ngày: 10/8/2002 đã trưởng thành, giao cho chị Trần Thị

Thu Th được trực tiếp nuôi cháu Chu Trần Việt H, sinh ngày: 09/8/2005, ghi

nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, công sức và nợ chung của, chị Th xác định là không có. Anh V

vắng mặt nên dành quyền yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công sức, nợ

chung của vợ chồng bằng một vụ kiện dân sự khác khi anh V có yêu cầu theo

quy định của pháp luật. Chị Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;

[1]. Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã mở phiên tòa vào ngày 27/10/2021 anh Chu Văn V vắng mặt không có lý do. Tòa án hoãn phiên tòa, ấn định ngày xét xử là ngày 15/11/2021 vàthực hiện giao quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa cho anh V. Tại phiên tòa anh V tiếp tục vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Anh V có quyền và nghĩa vụ sau khi xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu Th và Chu Văn V kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh V là hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Th và anh V đã diễn ra từ năm 2013, nguyên nhân chị Th cho rằng vợ chồng vợ chồng không hợp nhau trong nhiều vấn đề của cuộc sống vợ chồng. Anh V không tôn trọng, quan tâm đến chị, chị cũng có trao đổi, góp ý những anh V không thay đổi. Từ đó vợ chồng mâu thuẫn càng nặng nề hơn và đã sống ly thân hoàn toàn từ năm 2015 cho đến nay mỗi người một nơi. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo cho anh V , chị Th đến để hòa giải nhưng anh V không đến, Tòa án đã lập biên bản hòa giải không thành, chị Th vẫn yêu cầu giải quyết việc ly hôn và cho rằng không còn tình cảm vợ chồng, không có phương hướng nào để vợ chồng có thể đoàn tụ được với nhau và kiên quyết xin được ly hôn anh V .

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Th và anh V đã đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th .

. Về con chung: Chị Th và anh V có hai con chung là Chu Trần Tiến S, sinh ngày: 10/8/2002, Chu Trần Việt H, sinh ngày: 09/8/2005. Cháu Chu Trần Tiến S đã trưởng thành. Cháu Chu Trần Việt H đang ở cùng chị Th và được chăm sóc tốt. Hội đồng xét xử xác định chị Th có điều kiện để nuôi con, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của cháu Chu Trần Việt Hà và cũng để phù hợp với nguyện vọng của cháu Chu Trần Việt Hà là được ở cùng với mẹ. Vì vậy giao cháu Chu Trần Việt H cho chị Th được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình. Chị Th không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung, công sức: Chị Trần Thị Thu Th xác nhận là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Nợ chung: Chị Trần Thị Thu Th xác nhận là không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa anh Chu Văn V không có mặt, do vậy Hội đồng xét xử dành quyền khởi kiện cho anh V bằng một vụ kiện dân sự khác về phần tài sản chung, công sức, nợ chung khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về án phí: Chị Trần Thị Thu Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thu Th, chị Trần Thị Thu Th được ly hôn anh Chu Văn V.

2. Về con chung: Chị Th và anh V có hai con chung là cháu Chu Trần Tiến Sơn, sinh năm 2002 đã trưởng thành, nên không đề cập giải quyết.

Giao cho chị Trần Thị Thu Th trực tiếp nuôi cháu Chu Trần Việt H, sinh ngày 09/8/2005. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Chu Văn V cho đến khi có yêu cầu mới. Anh Chu Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Thu Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng ỏn phớ chị Trần Thị Thu Th đã nộp tại biên lai thu số AA/2018/0007220 ngày 23/3/2021của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thu Th, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Chu Văn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ