vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh Q.

Về hôn nhân: Ông Phạm Minh Q được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị M Đ. Về con chung: Giao cháu Phạm Minh S, sinh ngày 16/5/2004 cho bà Nguyễn Thị M Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Phạm Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Phạm Minh Q lạm dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 6 – 2021
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

2/ Ông Nguyễn Văn Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2021/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 23/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Minh Q; Sinh năm 1981; Địa chỉ: Số 196 ấp P, thị trấn L, huyện T, tỉnh S (ông Q vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M Đ; Sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 249 ấp G, thị trấn L, huyện T, tỉnh S (bà Đ vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Minh Q trình bày:

Ông với bà Nguyễn Thị M Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2003. Nhưng đến năm 2004, ông bà mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L (Nay là Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T), tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã L cấp giấy chứng nhận kết hôn số 0803 ngày 16 tháng 06 năm 2004. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông bà đã không còn sống chung từ năm 2019 cho đến nay.

Trong quá trình chung sống, ông Q với bà Đ có một con chung tên Phạm Minh S, sinh ngày 16/5/2004. Hiện cháu đang sống với Bà Đ.

Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Nay ông Phạm Minh Q yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị M Đ.

- Về con chung: Đồng ý cho bà Nguyễn Thị M Đ được trực tiếp nuôi con và ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho đến khi cháu S đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị M Đ không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 18/TB-TLVA ngày 19 tháng 01 năm 2021, tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị M Đ nhưng Bà Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh Q. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với bà Đ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Đ đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Minh Q ly hôn với bà Nguyễn Thị M Đ. Về con chung: Giao con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Phạm Minh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị M Đ đều vắng mặt nhưng nguyên đơn ông Phạm Minh Q có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, còn bà Nguyễn Thị M Đ mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với Ông Q và Bà Đ.

Về nội dung: Ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị M Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L (Nay là Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T), tỉnh S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 0803 ngày 16 tháng 6 năm 2004 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà Đ là hợp pháp.

Xét lý do xin ly hôn của ông Q, Hội đồng xét xử thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng ông Q, bà Đ hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người thường xuyên cãi vã. Ông bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc hay quan tâm, lo lắng cho nhau. Hội đồng xét xử xét thấy ông Q, bà Đ đã mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong thời gian dài, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông, bà trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Q.

Về con chung: Cháu Phạm Minh S, sinh ngày 16/5/2004 đang sống cùng bà Đ. Theo văn bản đề ngày 18/02/2021, cháu S có nguyện vọng được sống với mẹ nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Xét thấy, từ khi bà Đ và ông Q không còn sống chung thì cháu S sống chung với bà Đ, do bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xem xét giao cháu S cho bà Đ nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu S mỗi tháng là 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Q.

Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Ông Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Q phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn và chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh Q.

- Về hôn nhân: Ông Phạm Minh Q được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị M Đ.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Minh S, sinh ngày 16/5/2004 cho bà Nguyễn Thị M Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Phạm Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Phạm Minh Q lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Nguyễn Thị M Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Phạm Minh Q. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Minh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Minh S mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), cấp dưỡng cho đến khi cháu Phạm Minh S đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 14 tháng 6 năm 2021. Bà Nguyễn Thị M Đ là người trực tiếp nhận tiền cấp dưỡng.

Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng: Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.

- Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Ông Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Minh Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Ông Phạm Minh Q được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017 0005873 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, ông Phạm Minh Q phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ