vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trang Thị T được ly hôn với anh Lý P.

Về quyền nuôi con: Giao cho anh Lý P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lý Thị Ngọc T, sinh ngày 01-12-2014, Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 21-04-2016 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con giữa Trang Thị T và Lý P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trang Thị T được ly hôn với anh Lý P.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH TRỊ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09-07-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thanh Trọng

Ông Liêu Trinh Húy

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 05 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 06 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trang Thị T, sinh năm 1990 (có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 30-06-2021).

Địa chỉ: Ấp Bà E, xã Phú C, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Lý P, sinh năm 1994 (có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 28-06-2021).

Địa chỉ: Ấp Tân L, xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 16-04-2021 cũng như quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trang Thị T trình bày:

Chị và anh Lý P cưới nhau, sau đó đến ngày 05-04-2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú C, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh, hôn nhân tự nguyện, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay không còn quan tâm nhau. Do hôn nhân không hạnh phúc, nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Lý Thị Ngọc T, sinh ngày 01-12-2014, Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 21-04-2016, hiện sống với anh P, chị đồng ý giao con cho anh P nuôi, chị không cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lý P có lời khai ngày 23-06-2021 trình bày như sau.

Anh và chị T cưới nhau nhưng đến ngày 05-04-2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú C, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh, hôn nhân tự nguyện, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân đến nay 04 năm không còn quan tâm nhau. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Lý Thị Ngọc T, sinh ngày 01-12-2014, Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 21-04-2016, hiện sống với anh, anh đồng ý nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh P, lý do ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung, giao cho anh P được quyền nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không xem xét, giải quyết do anh P không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị T yêu cầu ly hôn với anh P. Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị T, bị đơn anh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh chị đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh P và chị T.

Về quan hệ hôn nhân, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn thể hiện ngày 05-04-2016 anh P và chị T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú C, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của các đương sự thể hiện, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng ý kiến, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Chị T khởi kiện xin ly hôn và anh P có lời khai đồng ý ly hôn với chị T. Do đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và các đương cũng tự nguyện ly hôn với nhau, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị T và anh P được ly hôn.

Về con chung, căn cứ giấy khai sinh của Ủy ban nhân dân xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, lời trình bày của chị T và anh P, vợ chồng có 02 con chung tên T và T1 hiện đang sống với anh P. Chị T yêu cầu giao các con chung cho anh P nuôi dưỡng. Xét thấy, các cháu đang sống cùng anh P đồng thời chị T cũng tự nguyện giao con cho anh P nuôi, nên Hội đồng xét xử giao cháu T và cháu T1 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét do đương sự không có yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm: Chị T là người yêu cầu xin ly hôn nên chị phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị có căn cứ pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trang Thị T được ly hôn với anh Lý P.

2. Về quyền nuôi con: Giao cho anh Lý P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lý Thị Ngọc T, sinh ngày 01-12-2014, Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 21-04-2016 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trang Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008394 ngày 18-05-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, chị T nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với chị Trang Thị T và anh Lý P đều vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ