vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Nh ly hôn anh Nguyễn Thành L"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 28/05/2021

HUYỆN THÁI THỤY Độc lập – Tự do – hạnh phúc V/v: Ly hôn giữa chị Nh và anh L

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Bà Trần Thị Tình – kiểm sát viên Trong ngày 28/5/2021, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự hôn nhân và gia đình thụ lý số 356/2020/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐST- HNGĐ ngày 20/4/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17/5/2021, giữa: Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 1992 – Có mặt Nơi ĐKHKTT: thôn ĐH, xã TP, TT, Thái Bình Địa chỉ nơi cư trú: SN 116, tổ 15, đường HV, phường PK, thành phố T, tỉnh Thái Bình Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1988 – Vắng mặt Địa chỉ: thôn 1 ĐH, xã TP, huyện TT, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các đơn gửi Tòa án, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Phạm Thị Nh trình bày: - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L tự nguyện tìm hiểu, kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã TP, huyện TT, tỉnh Thái Bình vào ngày 02 tháng 02 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống làm ăn tại thành phố Thái Bình. Tháng 6/2019 anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, luôn bất đồng quan điểm. Tháng 8/2020 mâu thuẫn căng thẳng, anh, chị sống ly thân. Nay chị

xác định không thể tiếp tục chung sống lâu dài với anh Luân được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh L. - Về con chung: Chị và anh L có một con chung là Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017. Hiện nay con chung đang ở cùng chị, chị có đủ điều kiện về thu nhập, sức khỏe, nơi ở và các điều kiện khác để chăm sóc nuôi dưỡng con nên chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. - Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh L không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung; chị và anh L không nợ ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ. Tại bản tự khai, ý kiến tại phiên họp, bị đơn là anh Nguyễn Thành L trình bày: Về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và thời gian phát sinh mâu thuẫn như lời trình bày của chị Nh. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn từ việc anh làm ăn kinh tế không có hiệu quả, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau. Tháng 8/2020 anh và chị Nh ly thân. Nay chị Nh có đơn ly hôn, anh nhất trí ly hôn với chị Nh. Anh và chị Nh có một con chung là Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017. Hiện nay con chung đang ở cùng chị Nh, anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh trực tiếp nuôi con, anh không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về phân chia tài sản chung; anh và chị Nh không nợ ai nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia nợ chung. Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã TP xác định chị Nh và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã TP vào ngày 02/02/2017, hiện nay anh L có địa chỉ và hộ khẩu thường trú tại địa phương còn chị Nh sinh sống, lao động ở nơi khác. Chị Nh và anh L có một con chung là Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017, hiện nay con chung ở cùng chị Nh, đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết việc giao trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Do không hòa giải được nên phải đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng quy định. Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Nh ly hôn anh L; giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017, chấp nhận việc chị Nh không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; Về việc chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết. Chị Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có mặt tại phiên tòa ngày 17/5/2021, được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa, biết rõ thời gian mở lại phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn. [2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn: [2.1]. Quan hệ hôn nhân: Chị Nh và anh L tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật – là hôn nhân hợp pháp. Cả hai đều xác định do tính tình không hợp nên cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đều xác định mâu thuẫn căng thẳng từ tháng 8/2020 dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Chị Nh yêu cầu giải quyết ly hôn, anh L nhất trí ly hôn với chị Nh nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Nh ly hôn anh L. [2.2]. Về con chung: Chị Nhvà anh L có một con chung là con Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017. Con chung hiện nay đang do chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nh và anh L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Nhung đã xuất trình chứng cứ chứng minh con chung hiện đang do chị trực tiếp nuôi được chăm sóc, học hành chu đáo và chị có đủ các điều kiện để chăm sóc, giáo dục con chung. Xét thấy con chung còn nhỏ, cần có sự chăm sóc và tình cảm của người mẹ, hơn nữa để ổn định cho việc học hành, sinh hoạt của con nên giao cho chị Nhung trực tiếp nuôi con Nguyễn Diệp L là phù hợp. Áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Diệp L. Chấp nhận việc chị Nhung không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. [2.3]. Về phân chia tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3]. Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QuyÕt ®Þnh: Áp dụng khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: 1. VÒ h«n nh©n: Xử cho chị Phạm Thị Nh ly hôn anh Nguyễn Thành L. 2.Về việc nuôi dưỡng con chung: Chị Nh và anh L có một con chung là Nguyễn Diệp L, sinh ngày 24/10/2017. Giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Diệp L. Chấp nhận việc chị Nh không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 3. VÒ phân chia tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. VÒ ¸n phÝ: Chị Nh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nh đã nộp theo biên lai số 0001914 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy. Chị Nh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 5. QuyÒn kh¸ng c¸o: Chị Phạm Thị Nh có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thành L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ