vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.

Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị Thúy N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàn Mỹ C, sinh ngày 16/4/2014 (hiện cháu C đang sống chung với chị N). Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30 – 9 – 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Lê;

2. Ông Nguyễn Hữu Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đục, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/7/2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/9/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1990.

Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T - Đồng Tháp.

(Chị N và anh Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện và lời tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy N trình bày: chị và anh Nguyễn Văn Đ tiến hành hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2013. Trong quá trình chung sống có con chung là Nguyễn Hoàn Mỹ C, sinh ngày 16/4/2014. Do bất đồng quan điểm, nên đã ly thân từ năm 2016 đến nay vẫn không thể hàn gắn tình cảm được. Do đó khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về tình cảm: yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

+ Về nuôi con chung: yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không có.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Văn Đ có tờ tự khai thừa nhận có tiến hành hôn nhân và đăng ký kết hôn với chị N, năm 2018 vợ chồng mâu thuẩn không hòa giải được, đến năm 2019 thì ly thân cho đến nay. Qua yêu cầu của nguyên đơn thì:

+ Về tình cảm: đồng ý ly hôn với chị N.

+ Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Hoàn Mỹ C, sinh ngày 16/4/2014, hiện đang sống với chị N, nên đồng ý giao con cho chị N nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Tam Nông là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên - bị đơn đều có đơn xin vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Do trong vụ án này, Tòa án không có tiến hành thu thập chứng cứ và cũng không thuộc các trường hợp phải có Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử vẩn tiến hành xét xử mà không có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Nguyên – bị đơn đều thừa nhận hôn nhân có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 18/9/2013); chung sống có 01 con chung là Nguyễn Hoàn Mỹ C; tài sản chung, nợ chung: không có. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Chị N, anh Đ đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng cả hai thống nhất ly hôn. Xét thấy đây là sự tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 55, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận.

- Về nuôi con chung: chị N có yêu cầu nuôi con chung, anh Đ cũng đồng ý. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của nguyên – bị đơn và phù hợp ý kiến của cháu C, nên chấp nhận để chị N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu C.

- Về cấp dưỡng: do không yêu cầu về việc cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị N và anh Đ thừa nhận không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, thì chị N là người khởi kiện thì phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000đồng. Anh Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 92, 147 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; Áp dụng các Điều 55, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.

- Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị Thúy N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàn Mỹ C, sinh ngày 16/4/2014 (hiện cháu C đang sống chung với chị N).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BI/2019/0016240, ngày 09/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ