vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Võ Trường S được ly hôn.

Về con chung: Bà Trần Thị B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014. Ông Võ Trường S có quyền thăm nom cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 không ai được cản trở. Bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hon nhan"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Võ Trường S được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ - ST.
Ngày: 14– 9 - 2021.
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Điền

2. Ông Nguyễn Thanh Rực

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hoàng Nha - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2021/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp 1, thị trấn L, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Trường S, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp Ngãi H, thị trấn Đ, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 13/11/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày:

Vào năm 2009, bà và ông S có kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đại Ngãi vào ngày 18/12/2009. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cải vã, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, ông S thường xuyên đi chơi, không lo chăm sóc gia đình và đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2020 cho đến nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Võ Trường S; Trong thời gian chung sống bà và ông S có hai người con tên Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014. Hiện nay hai cháu đang sống với bà T. Nay bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con; Trong quá trình chung sống bà và ông S không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị B; Về con chung: Giao con chung tên Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 cho bà Trần Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng và ông S không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị B xác định trong thời gian chung sống bà Trần Thị B và ông Võ Trường S không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Trường S mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Võ Trường S.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Võ Trường S có đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2009 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đại Ngãi. Hôn nhân của ông, bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị B và ông Võ Trường S là hợp pháp.

Bà Trần Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông Võ Trường S. Xét yêu cầu của bà Trần Thị B Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gởi thông báo về việc thụ lý cho ông Võ Trường S và giữa bà Trần Thị B, ông Võ Trường S từ khi sống ly thân vào tháng 06 năm 2020 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh ngày 24/6/2021 về tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị B, ông Võ Trường S của Tòa án nhân dân huyện Long Phú. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị B, ông Võ Trường S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị B được ly hôn với ông Võ Trường S.

Về con chung: Tại phiên tòa bà Trần Thị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014. Xét thấy, hiện nay cháu Nam, cháu Hảo đang sống với bà T và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu cũng theo nguyện vọng của cháu Nam được sống với mẹ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 là có căn cứ.

Ông S có quyền thăm nom cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 không ai được cản trở theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Trần Thị B cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà T cho rằng trong thời gian chung sống bà T và ông S không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết là có căn cứ.

. Về án phí: Bà Trần Thị B phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Ông Võ Trường S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Võ Trường S được ly hôn.

2. Về con chung: Bà Trần Thị B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014. Ông Võ Trường S có quyền thăm nom cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014 không ai được cản trở. Bà Trần Thị B cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Võ Trường S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 14/12/2010 và Võ Hoàng H, sinh ngày 29/11/2014.

3. Ông Võ Trường S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thị B không yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có và các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2017/0008120 ngày 11/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú. Như vậy, bà Trần Thị B đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Võ Trường S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự sơ thẩm.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ