vanban.org

Bản án 34/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Nguyễn Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TD
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 34/2020/HSST
Ngày 22 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Minh Quế.

2. Bà Hoàng Thị Hanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện TD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Hướng Đạo, Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 28/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 10/7/2020 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn Cổ Tích, xã Đồng Tĩnh, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh; vợ: Nguyễn Thị Thanh H và 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 11/3/2020, tạm giam ngày 16/3/2020. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TD – có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Nguyễn Văn T, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Thôn Tự Do, xã Đồng Tĩnh, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

- Phùng Thị N, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn Cổ Tích, xã Đồng Tĩnh, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

- Phùng Văn C, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn Long Hồ, xã Đồng Tĩnh, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/3/2020, Nguyễn Văn T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H hỏi mua 01 gói ma tuý loại Heroine để sử dụng, H đồng ý và hẹn gặp tại nhà văn hoá thôn Hợp Hoà, xã Đồng Tĩnh, huyện TD. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K6-7501 đến điểm hẹn gặp T. Khi gặp T, H lấy 01 gói ma túy được bọc bằng giấy màu trắng đưa cho T, T cầm gói ma túy và đưa cho H số tiền 200.000 đồng thì bị Công an huyện TD bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái của T 01 gói nhỏ ma túy bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột cục màu trắng được niêm phong trong phong bì kí hiệu A1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M228 màu xanh có lắp sim; Thu giữ tại mặt đất cách vị trí H bị bắt giữ khi đang bỏ chạy 01 gói nhỏ ma túy được bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột cục màu trắng được niêm phong trong phong bì kí hiệu M1, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và số tiền 200.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen và 01 xe mô tô biển kiểm soát 88K6 -7501.

Tại bản kết luận giám định số 500a/KLGĐ ngày 14/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Chất bột, cục màu trắng có mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,0276g, loại Heroine; Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0750g, loại Heroine.

Heroine là chất ma tuý nằm trong Danh mục I, TT09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Quá trình điều tra H khai: Khoảng 10 giờ ngày 11/3/2020, T gọi điện cho H hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy loại Heroine. H mượn xe mô tô biển kiểm soát 88K6-7501 của chị Phùng Thị N đi thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc mua ma túy loại Heroine được bọc bằng giấy màu trắng của một người đàn ông không rõ, tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy và đi về đến khu vực thuộc xã Đồng Tĩnh, H vào nương sắn cạnh đường và chia gói ma túy vừa mua thành hai gói nhỏ và cất vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Khi về đến điểm hẹn với T, H bán cho T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Số điện thoại của T gọi cho H 0972.645.964.

Lời khai của Nguyễn Văn T: Trưa ngày 11/3/2020 do có nhu cầu sử dụng mà túy và có quen biết H nên hỏi mua ma túy để sử dụng. Khi đến chỗ hẹn T đưa cho H số tiền 200.000 đồng, H đưa lại T 01 gói ma túy thì bị bắt quả tang.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSTD ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TD đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo H từ 33 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động của H và T. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án về thời gian, địa điểm phạm tội, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 11/3/2020, tại khu vực nhà văn hoá thôn Hợp Hoà, xã Đồng Tĩnh, huyện TD, Công an huyện TD đã bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,0276 gam cho Nguyễn Văn T với số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo H còn có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,0750 gam nhằm mục đích để bán kiếm lời. Tang vật thu giữ 02 gói Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; số tiền 200.000 đồng, 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô đã qua sử dụng.

Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự:

“Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại cho sức khỏe, là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội khác, Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vì là đối tượng nghiện nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do vậy, phải xử lý thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi thực hiện hành vi bán ma túy cho T, bị cáo chưa có tiền án và tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cho bị cáo cải tạo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo H khai mua 01 gói Heroine của 01 người đàn ông tại thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, bị cáo không biết được tên tuổi, địa chỉ của người bán ma túy này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Quá trình điều tra xác định, sáng ngày 11/3/2020 T có hành vi tàng trữ 0,0276g gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của T không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện TD đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128 ngày 24/3/2020, đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của T với số tiền 1.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với chị Phùng Thị N là chị dâu của bị cáo H khai: Ngày 11/3/2020 cho H mượn xe mô tô biển kiểm soát 88K6-7501. Nguồn gốc chiếc xe mô tô này của anh Phùng Văn C, sinh năm 1988 ở thôn Long Hồ, xã Đồng Tĩnh, huyện TD cho chị mượn để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Việc H mượn xe mô tô do chị đang quản lý đi mua ma tuý chị không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện TD không xem xét xử lý hình sự đối với chị Ngọt là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ mẫu vật hoàn mẫu vật A1=0,0000 gam, M1= 0,0000 gam mẫu cùng toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu của H, đây là số tiền H bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu MOBEIIM228, bên trong có thẻ sim thuê bao số 0972.645.964 đã qua sử dụng của T và 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA1280, bên trong có thẻ sim thuê bao số 0862992321 đã qua sử dụng thu của H là phương tiện liên lạc thực hiện tội phạm cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 88K6-7501, loại xe Wave, nhãn hiệu Honda. Kết quả tra cứu xác định: Chiếc xe mô tô đăng ký tên chủ sở hữu anh Phùng Văn C. Ngày 25/3/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TD đã trả lại cho anh Cường nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/3/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật hoàn trả sau giám định có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc bên trong có A1=0,0000 gam, M1= 0,0000 gam và toàn bộ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA 1280, bên trong có thẻ sim thuê bao số 0862.992.321 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động màu đen xanh, nhãn hiệu MOBELL M228, bên trong có thẻ sim thuê bao số 0972.645.964 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Văn H.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Minh Quế Hoàng Thị Hanh

Nguyễn Thị Thanh Hoài Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án + Viện kiểm sát tỉnh;

- Viện kiểm sát nhân dân huyện;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an huyện;

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện;

- Bị cáo,

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ, thi hành án hình sự; Văn phòng.

Nguyễn Thị Thanh Hoài THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hoài

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nghiệp Hoàng Thị Hanh

Nguyễn Thị Thanh Hoài

Cỡ chữ