- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyễn Quốc A lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Quốc A phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HS-ST Ngày: 03-7-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Thế Ứng – Cán bộ hưu trí;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy –Phó Hiệu trưởng trường trung học phổ thông Đốc Binh Kiều.
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Minh Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trân Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2020/TLST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
TRẦN NGUYỄN QUỐC A; Tên gọi khác: Bi;
Sinh ngày: 04 – 3 – 1997; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Trung H và bà: Nguyễn Thị Ánh T1 Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền sự: ngày 11/7/2017, Ủy ban nhân dân phường 5, Thị xã Cai Lậy ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Tiền án: 02 lần
- Ngày 16/7/2016, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xử phạt 01 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 25/01/2017.
- Ngày 16/4/2018, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 26/4/2019.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/3/2020, chuyển tạm giam ngày 14/3/2020 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Lê Trần Anh T, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số 2/27, khu phố 1, phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh T1, sinh 1977. Có mặt.
Địa chỉ: Số 12/559B, khu phố 1, phường 5, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 11/8/2019, Trần Nguyễn Quốc A đến nhà anh Lê Trần Anh T tại khu phố 1, phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang để chơi. Đến khoảng 11 giờ ngày 12/8/2019, Quốc A mượn xe mô tô Honda SH 125 màu trắng, biển kiểm soát 63B2 – 728.04 của Anh T đi mua thức ăn, T đồng ý cho Quốc A mượn xe. Quốc A điều khiển xe về nhà tắm và chuẩn bị đi mua đồ ăn thì có người nhắn tin đòi tiền. Lúc này, Quốc A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Anh T để bán lấy tiền trả nợ nên Quốc A điều khiển xe chạy đến gặp anh Đỗ Ngọc Th ở ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang và nhờ anh Th tìm chỗ cầm xe. Anh Thành không tìm được chỗ cầm nên điện thoại cho Phùng Hữu H đến mua xe. Quốc A bán cho anh H xe mô tô biển số 63B2 – 728.04 của Anh T với giá 15.000.000 đồng. Quốc A lấy tiền trả nợ thông qua ứng dụng trên điện thoại và tiêu xài cá nhân.
Anh T không thấy Quốc A trả xe nên đến Công an thị xã Cai Lậy trình báo, đồng thời liên hệ với Quốc A. Quốc A nói cầm xe cho anh H và cho địa chỉ của anh Huân để Anh T đi chuộc lại. Anh T và anh H thống nhất số tiền chuộc lại xe là 19.000.000 đồng do anh H có sữa chữa một số bộ phận của xe. Ngày 18/8/2019, khi Anh T giao tiền cho Huân thì bị công an thị xã Cai Lậy mời về làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 63B2 – 728.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B2 – 728.04 và số tiền 19.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 2681 ngày 29/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy kết luận xe mô tô biển số 63B2 – 728.04 của Anh T trị giá 38.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Ánh T (mẹ Quốc A) đã bồi thường cho anh Lê Trần Anh T số tiền 19.000.000 đồng. Anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy đã trao anh Lê Trần Anh T 01 xe mô tô biển số 63B2 – 728.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; trả anh Phùng Hữu Huân số tiền 19.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSTXCL ngày 29/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy để xét xử Trần Nguyễn Quốc A về tội : “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa:
2
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ y nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 175, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyễn Quốc A phạm tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo Quốc A từ 04 năm– 05 năm tù .
- Bị cáo Trần Nguyễn Quốc A khai nhận: ngày 12/8/2019, bị cáo hỏi mượn được xe Honda SH 125 màu trắng, biển kiểm soát 63B2 – 728.04 của anh Lê Trần Anh T đi mua thức ăn, do không tiền trả nợ nên bị cáo nãy sinh ý định chiếm đoạt xe của Anh T đem đi bán cho anh H lấy số tiền 15.000.000 đồng, khi Anh T đòi lại xe thì bị cáo chỉ địa chỉ cho Anh T để Anh T gặp anh Huân chuộc lại xe.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người bị hại
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Ánh T1 xác định số tiền 19.000.000 đồng là của bà tự nguyện hoàn trả lại cho Anh T đã bỏ ra chuộc xe. Do bị cáo Quốc A là con ruột của bà nên bà không yêu cầu bị cáo trả lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tínhhợppháp củacác hànhvi,quyếtđịnhtốtụngtrongđiềutra, truy tố,xétxử:
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Lời khai của bị cáo Trần Nguyễn Quốc A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định: vào ngày 12/8/2019, sau khi mượn được xe Honda SH 125 màu trắng, biển kiểm soát 63B2 – 728.04 của anh Lê Trần Anh T bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Anh T đem đi cầm để lấy tiền trả nợ nhưng không có người nhận cầm nên đã bán xe cho anh Huân với số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo sử dụng tiền vào mục đích trả nợ và tiêu xài hết. Trị giá chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt của Anh T là 38.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân.
3
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mượn xe người khác rồi đem đi bán mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Ngày 16/4/2018, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng “tái phạm” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc tình tiết tăng nặng định khung “tái phạm nguy hiểm”.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ quy kết bị cáo Trần Nguyễn Quốc A phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú và có tác động gia đình khắc phục xong hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thuộc phần tử khó giáo dục.
Qua xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như xem xét nhân thân của bị cáo Trần Nguyễn Quốc A. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo bản thân thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật qua đó nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Vật chứng thu giữ trong vụ án đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai lậy trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức Thu, miễn, giảm, Thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy đã phân tích chứng cứ xác định bị cáo Trần Nguyễn Quốc A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Anh Phùng Hữu H có hành vi mua chiếc xe hon đa SH 125 màu trắng, biển kiểm soát 63B2 – 728.04 nhưng không biết là xe do bị cáo chiếm đoạt của Anh T nên không có dấu hiệu của tội phạm.
Vì các lẽ trên.
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 175, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Quốc A phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Quốc A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2020.
2/- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3/- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Quốc A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Bà T1 có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan đến quyện và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Anh Lê Trần Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy; - Sở tư pháp: Tiền Giang; - Những người tham gia tố tụng: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu: VT, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ THỊ ÁNH TUYẾT 5 |