vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 05/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (25-10-2019). Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 639/PC09 ngày 01-11-2019 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày: 05-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Rmah HThuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Ông Nghiêm Thế Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa-Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:44/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30-7- năm 1995 tại Gia Lai.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn 3, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số nhà B18 Khu thu nhập thấp, tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ cửa sắt; Con ông Phan Văn T và bà Huỳnh Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25-10-2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Nguyễn Văn H-Người chứng kiến. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T là người có sử dụng ma túy. Qua mối quan hệ ngoài xã hội, T có số điện thoại của Đ (Không rõ nhân thân, lai lịch) là người có bán ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 25-10-2019, T gọi điện thoại cho Đ hỏi mua ma túy về sử dụng. Đ đồng ý và hẹn T đến trước khu vực chợ phường T, thành phố P để thực hiện việc mua bán ma túy. Sau đó, T thuê xe Taxi (không rõ hãng xe, biển số và người điều khiển) đi đến địa chỉ nêu trên thì gặp Đặng. Tại đây, Đặng bán cho Thành 01 gói nilon bên trong chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng. T cất gói ma túy vào túi áo rồi thuê xe Taxi chở về phòng trọ tại số 18B khu thu nhập thấp, tổ 5, phường T, thành phố P. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, T về đến phòng trọ và bỏ gói ma túy vừa mua được trên nền nhà ở đường luồng đi vào phòng ngủ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P vào kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ dưới chân của T đang đứng 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của T 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia 1280, kèm sim có số seri 8984.04800.00632.86428.

Tại Bản kết luận giám định số 639/KLGĐ ngày 01-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì Công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 1,0608 gam”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.

Tại Bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phan Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Văn T với mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

-Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 639/PC09 ngày 01-11-2019 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

-Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, kèm sim số seri 8984.04800.00632.86428 (màu đen, bàn phím bị mờ, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).

Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 25-10-2019, tại số nhà B18 khu thu nhập thấp, tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi Phan Văn T đang có hành vi cất giấu 1,0608 gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi tàng trữ 1,0608 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng do bị cáo Phan Văn T thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Phan Văn T hoàn toàn nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng do bản thân có sử dụng ma túy và không có ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 1,0608 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm của pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 639/PC09 ngày 01-11-2019 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, kèm sim số seri 8984.04800.00632.86428 là phương tiện bị cáo liên lạc để mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với đối tượng tên Đ là người đã bán ma túy cho bị cáo T. Do bị cáo T không biết được lai lịch của đối tượng này nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh và khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (25-10-2019).

3. Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

-Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 639/PC09 ngày 01-11-2019 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

-Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, kèm sim số seri 8984.04800.00632.86428.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-02-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

4. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ