vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 24/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày: 24/4/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1) Ông Phạm Văn Tiên

2) Bà Nguyễn Thị Sương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:

- Bị cáo: Trịnh Văn P, sinh ngày 09/10/1972 tại Kon Tum; Nơi cư trú: 129 Hùng Vương, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh T, sinh năm 1925 (đã chết) và bà Võ Thị Th, sinh năm 1933 (đã chết); Có vợ là Đinh Thị Ngọc T, sinh năm 1972; Có 1 con là Trịnh Thị D U, sinh năm 1994.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Bị cáo: Nguyễn Minh T, sinh ngày 15/02/1980 tại Kon Tum; Nơi cư trú: Tổ 1, phường Trần H Đạo, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1949; Có vợ là Đào Thị Minh T, sinh năm 1983; Bị cáo có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

- 1 -

Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Bị hại:

1/ Cháu Trần Gia H, sinh năm 2007 (đã mất).

Địa chỉ: 259 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Gia H: Chị Phạm Thị Lan H, sinh năm 1972. Địa chỉ: 259 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2/ Cháu Đậu Anh D, sinh ngày 11/5/2007; (Có mặt).

Địa chỉ: C4-04 Tập thể sư đoàn 10, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Đậu Anh D: anh Đậu Mạnh T, sinh năm 1981, địa chỉ: Tiểu đoàn 25, sư đoàn 10, quân đoàn 3; chị Nguyễn Hồng L, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn 1, thị trấn ĐăkRve, huyện K, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Ngƣời làm chứng:

1/ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Hẻm 104 Nơ Trang Long, phường Trường Chinh, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

2/ Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 3, phường Duy Tân, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

- Ngƣời chứng kiến: Chị Trần Thị Thùy Tr, sinh năm 1995; (Có mặt).

Nơi cư trú: 257 Bà Triệu, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng số 45/CT-VKSTPKT ngày 17/3/2020 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 20/9/2019, Nguyễn Minh T (sinh năm 1980, trú tại tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố K) giao xe ô tô biển số 82C-050.52 của T cho Trịnh Văn P (sinh năm 1972, trú tại: 129 Hùng Vương, thành phố K, tỉnh Kon Tum) không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Sau đó T ngồi bên ghế phụ còn P điều khiển xe ô tô biển số 82C-050.52 lưu thông trên đường Ba Đình, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum đi theo hướng từ đường Trần Văn Hai đến đường Nguyễn Viết Xuân. Khi đi đến trước cổng phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum, do lúc này P không chú ý quan sát hướng đi phía trước và không làm chủ tay lái nên đã tông vào cháu Đậu Anh D (sinh ngày 11/5/2007, trú tại: 04/C4 Tập thể sư đoàn 10, phường Thắng Lợi, thành phố K) đang điều khiển xe đạp chở theo sau cháu Trần Gia H (sinh năm 2007, trú tại: 259 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố K) lưu thông theo hướng ngược lại.

- 2 -

Hậu quả làm cháu Trần Gia H tử vong. Cháu Đậu Anh D bị thương tích nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 71/TT-TTPY ngày 23/9/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Cháu Trần Gia H chết do chấn thương sọ não.

* Hiện trƣờng và kết quả khám nghiệm hiện trƣờng xác định:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm trên đường Ba Đình, phường Thắng Lợi, thành phố K. Đây là đường hai chiều, ở giữa có dải phân cách chia thành hai làn đường riêng biệt. Lòng đường được trải bê tông nhựa bằng phẳng. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn nằm tại phần đường phía Bắc (hướng từ phía đường Trần Văn Hai đến đường Nguyễn Viết Xuân). Lòng đường tại đây rộng 9,6 m. Trên hiện trường xe ô tô biển số 82C-050.52 có đầu xe quay về hướng Tây Bắc, đuôi xe quay về hướng Đông Nam. Trục trước xe ô tô này nằm trên mép đường bên phải, trục sau cách mép đường bên phải 2,2m.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân; phương tiện; tang vật, dấu vết:

- Xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52 đánh dấu vị trí số (1).

- Xe đạp màu trắng do Đậu Anh D điều khiển đánh dấu vị trí số (2).

- Vết cà do bi đan bên phải xe đạp tạo nên (VC).

- Vết phanh do xe ô tô tạo nên (VP).

- 02 chiếc dép (D1 là chiếc dép bên phải và D2 là chiếc dép bên trái).

- Điểm va chạm giữa hai phương tiện (ĐĐ).

Kính chắn gió phía trước bên phụ của xe ô tô bị lõm hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau. Trên hiện trường xe đạp nằm ngả nghiêng bên trái, bánh xe đạp phía trước cong vênh hướng từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, bánh xe đạp phía trước cong vênh hướng từ ngoài vào trong, yên xe bị lệch từ trên xuống dưới. Khoảng cách từ trục sau xe đạp vào lề đường bên phải là 8m, khoảng cách từ trục trước xe đạp vào lề đường bên phải là 8m.

Trên hiện trường phát hiện và đánh dấu một vết cà. Kích thước VC là 0,8m, chiều hướng VC từ sau ra trước do bi đan bên phải xe đạp tạo nên, điểm đầu vết cà vào mép đường bên phải là 5m. Nạn nhân Trần Gia H nằm ngửa trên lòng đường. Khoảng cách từ đầu nạn nhân vào mép đường bên phải là 4,4m.

Trên hiện trường phát hiện và đánh dấu một vết phanh hình vòng cung. Chiều dài VP là 15,8m do xe ô tô tạo nên. Đầu vết phanh nằm trên dãy phân cách cứng, cách mép đường bên phải 9,8m.

Trên hiện trường phát hiện và đánh dấu vị trí 02 chiếc dép. D1 vào mép đường bên phải 6m, D2 vào mép đường bên phải 3,4m.

Căn cứ các dấu vết để lại trên hiện trường xác định ĐĐ có vị trí như sau: ĐĐ cách mép đường bên phải 4,9m, cách VC 1,7m, cách trụ điện ký hiệu KTLT12 17m, cách trục sau xe đạp 6,2m, cách trục trước xe đạp 7,2m, cách

- 3 -

điểm đầu VP 17,4m, cách vị trí D1 là 10,2m, cách vị trí D2 là 2,8m, cách nạn nhân Trần Gia H 9m.

Tất cả các số liệu đo vẽ theo hướng đi bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52 (Hướng Trần Văn Hai đến Nguyễn Viết Xuân).

Mở rộng hiện trường và khu vực xung quanh không có phát hiện gì thêm.

Trong quá trình khám nghiệm hiện trường đã vẽ sơ đồ, chụp hình minh họa và tạm giữ xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52 và xe đạp màu trắng đưa về Công an thành phố Kon Tum để phục vụ công tác điều tra.

* Kết luận giám định phƣơng tiện đối với xe môtô mang biển số đăng ký 82C-050.52:

- Bên ngoài xe: Phần dưới kính chắn gió trước phía bên trái bị bể vỡ; Phần trước nắp ca pô bị cong vênh, móp méo, biến dạng theo hướng từ trước ra sau; Mặt ngoài vành bánh xe trước phía bên trái bị chà mòn, cong vênh; Thước lái phía bên trái (đòn kéo ngang bên trái) bị gãy lìa. Vì xe không tháo rời nên các chi tiết bên trong (không nhìn thấy được) có thể bị hư hỏng sau tai nạn.

- Hệ thống phanh: Vì thước lái phía bên trái (đòn kéo ngang bên trái) bị gãy lìa nên xe không chạy được. Vì vậy không kiểm tra được hiệu quả của hệ thống phanh. Dẫn động phanh hoạt động bình thường.

- Hệ thống lái: Thước lái phía bên trái (đòn kéo ngang bên trái) bị gãy lìa.

* Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52.

- 01 (một) xe đạp màu trắng.

Sau khi tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 25/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 19/02/2020, trao trả xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Minh T, và trao trả xe đạp màu trắng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị Lan H (sinh năm 1972, địa chỉ: 259 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum, mẹ của bị hại Trần Gia H).

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trịnh Văn P và Nguyễn Minh T đã thường xuyên đến động viên, thăm hỏi gia đình nạn nhân và cùng nhau đền bù số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại cháu Trần Gia H là chị Phạm Thị Lan H tự nguyện hòa giải, có đơn xin bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trịnh Văn P và Nguyễn Minh T.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSTPKT ngày 17/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Trịnh Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 điều 260 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự.

- 4 -

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trịnh Văn P từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 24 (Hai mươi tư) đến 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị cáo bị truy tố:

Trên cơ sở lời khai của các bị cáo, các đương sự và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 20/9/2019, Nguyễn Minh T (sinh năm 1980, trú tại tổ 1, phường Trần H Đạo, thành phố K) giao xe ô tô biển số 82C-050.52 của T cho Trịnh Văn P (sinh năm 1972, trú tại: 129 Hùng Vương, thành phố K, tỉnh Kon Tum) không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Sau đó T ngồi bên ghế phụ còn P điều khiển xe ô tô biển số 82C-050.52 lưu thông trên đường Ba Đình, phường Thắng Lợi, thành phố K, tỉnh Kon Tum đi theo hướng từ đường Trần Văn Hai đến đường Nguyễn Viết Xuân. Khi đi đến trước cổng phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum, do lúc này P không chú ý quan sát hướng đi phía trước và không làm chủ tay lái nên đã tông vào cháu Đậu Anh D (sinh ngày 11/5/2007, trú tại: 04/C4 Tập thể sư đoàn 10, phường Thắng Lợi, thành phố K) đang điều khiển xe đạp chở theo sau cháu Trần Gia H (sinh năm 2007, trú tại: 259 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố K) lưu thông theo hướng ngược lại.

- 5 -

Hậu quả làm cháu Trần Gia H tử vong. Cháu Đậu Anh D bị thương tích nhẹ.

Hành vi của bị cáo Trịnh Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, số 45/CT-VKSTPKT ngày 17/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố các bị cáo Trịnh Văn P và Nguyễn Minh T là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Đánh giá về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Văn P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Kon Tum. Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử nhằm tuyên truyền pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung đối với tình hình tội phạm hiện nay là cần thiết.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gián tiếp gây thiệt hại cho tính mạng của cháu Trần Gia H. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bịcáo gây ra.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bản thân các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Gia H số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Gia H có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P và bị cáo T. Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Đậu Anh D có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về nhân thân của các bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Bị hại điều khiển xe đạp không đúng phần đường quy định, xét thấy đây cũng là một phần lỗi của bị hại không chấp hành đúng luật giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn xảy ra.

Về vật chứng của vụ án:

- 6 -

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 25/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 19/02/2020 trao trả xe ô tô biển kiểm soát 82C-050.52 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Minh T và trao trả xe đạp màu trắng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị Lan H. Xét thấy việc trả lại các phương tiện nêu trên là đúng, không ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Gia H số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết, đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Gia H, đại diện hợp pháp của bị hại cháu Đậu Anh D không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xét đến.

Đối với cháu Đậu Anh D đã có hành vi điều khiển xe đạp đi không đúng phần đường theo quy định, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 46 ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy địnhxử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Đậu Anh D được 12 tuổi 4 tháng 09 ngày. Do đó, Đậu Anh D chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Các bị cáo Trịnh Văn P, Nguyễn Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 24 (Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Trần H Đạo được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết đinh thi hành án và bản sao bản án. Bị cáo Nguyễn Minh T được miễn khấu trừ thu nhập.

- 7 -

Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân phường Trần H Đạo, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo Trịnh Văn P, Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (24/4/2020) để yêu cầu xét xử Pc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo thủ tục pháp luật.

Cỡ chữ